Hiển thị các bài đăng có nhãn trangthơbèbạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trangthơbèbạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2009

31.5. 2009 Tâm thức sông


Tâm thức sông

Võ Văn Luyến




Dòng sông tự mình rõ nắng mưa ấm lạnh, mặc rối nhiễu giông gió mây vần, mặc sáng tối vây quanh, mặc suối khe dự cuộc chia phần, mặc ao làng hát ví trời xanh.

Dòng sông đau cuộc thế lô xô con sóng, thuyền trăm mảnh gửi thân vào đáy cạn, đời trăm mảnh đầy vơi bất hạnh, lòng trăm mảnh đục trong .

Dòng sông yêu vầng trăng, yêu mộng mơ trăng sáng bội phần, yêu rong rêu gió dập mưa vùi ngọt đắng chẳng rời nhau, yêu hạt cát trong đớn đau tự sáng.

Dòng sông ơn biển thẳm non cao, ơn chí bền tình sâu đất lặng; ơn tuổi thơ thuyền giấy, ơn con chuồn chuồn tin cậy, ơn tóc xoả mái nhì mái đẩy; ơn đôi bờ bồi lở sinh thành.

17/02/2008


VÕ VăN LUYếN

31.5. 2009 Tâm thức sông


Tâm thức sông

Võ Văn Luyến




Dòng sông tự mình rõ nắng mưa ấm lạnh, mặc rối nhiễu giông gió mây vần, mặc sáng tối vây quanh, mặc suối khe dự cuộc chia phần, mặc ao làng hát ví trời xanh.

Dòng sông đau cuộc thế lô xô con sóng, thuyền trăm mảnh gửi thân vào đáy cạn, đời trăm mảnh đầy vơi bất hạnh, lòng trăm mảnh đục trong .

Dòng sông yêu vầng trăng, yêu mộng mơ trăng sáng bội phần, yêu rong rêu gió dập mưa vùi ngọt đắng chẳng rời nhau, yêu hạt cát trong đớn đau tự sáng.

Dòng sông ơn biển thẳm non cao, ơn chí bền tình sâu đất lặng; ơn tuổi thơ thuyền giấy, ơn con chuồn chuồn tin cậy, ơn tóc xoả mái nhì mái đẩy; ơn đôi bờ bồi lở sinh thành.

17/02/2008


VÕ VăN LUYếN

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

03.02. 2009 VUI TẾT- Ngô Viết Đức

VUI TẾT


Tết đến vui chung khắp mọi nhà
Phố phường rực rỡ thắm muôn hoa
Hân hoan chào đón vài cốc rượu
Rộn rã mừng xuân mấy chén trà
Lặng lẽ bên thêm cây đơm lộc
Lãnh lót sau vườn tiếng chim ca
Trên xóm dưới làng vui cùng Tết
Vui tuổi còn thơ , vui tuổi già!

Th.s NGÔ VIẾT ĐỨC
(Hiệu trưởng THPT Thị xã Quảng Trị)




03.02. 2009 VUI TẾT- Ngô Viết Đức

VUI TẾT


Tết đến vui chung khắp mọi nhà
Phố phường rực rỡ thắm muôn hoa
Hân hoan chào đón vài cốc rượu
Rộn rã mừng xuân mấy chén trà
Lặng lẽ bên thêm cây đơm lộc
Lãnh lót sau vườn tiếng chim ca
Trên xóm dưới làng vui cùng Tết
Vui tuổi còn thơ , vui tuổi già!

Th.s NGÔ VIẾT ĐỨC
(Hiệu trưởng THPT Thị xã Quảng Trị)




Thứ Tư, 3 tháng 9, 2008

04.9. 2008 TRANG THƠ BÈ BẠN




TRANG THƠ BÈ BẠN





*Hoàng Tấn Linh :
Quê Làng Câu Nhi, Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị. Tốt nghiệp ĐHSP Văn. Dạy học, làm thơ, giỏi chữ Hán, là "Cụ Cử thời @"mặc dù tuổi rất trẻ. Hiện công tác tại trường THPT Hải Lăng.

BẤT CHỢT


Bất chợt ngày qua trong mưa
Tự nhiên thấy lòng tím nhớ
Và khi chiếc lá giao mùa
Lòng mình theo mây về núi.

Bất chợt từ trong trang sách
Tình yêu như khói như sương,
Ngày mang dấu hài qua ngõ
Mong manh như nắng bên đường.

Bất chợt gặp người từ độ
Bùa yêu như chiếc nỏ thần
Tự nhiên thấy lòng nắng lạ
Mùa đi riêng mang riêng mang.

Bất chợt ngày qua rất vội
Ô kìa nắng hắt bên sông
Heo may cơ hồ trong gió
Theo về trong mắt nhớ nhung.

Bất chợt gặp mình, bất chợt
Cỏ mềm chiếc lá trên mi
Còn có bao lần bất chợt
Đầy vơi hạt nắng xuân thì.


Hoàng Tấn Linh




YẾU TỐ SẮC – KHÔNG

TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

(Nhận diện )

Hoàng Tấn Linh

Sắc – không là chỗ thuần nhất trong nguyên lí tồn nguyên của đạo Phật. Sắc là chân của ảnh, không là chỗ tồn nguyên của hư, trong ảnh có hư, trong sắc là không, chỗ thừa hữu tồn tại trong thường khuyết tạo nên sự hằng thường của niệm sống. Sắc – không tồn tại trong ý niệm của chúng ta xưa nay, tạo nên chỗ khép kín những ý niệm về cơ sở vũ trụ và con người tâm linh.

Ở một số nước trong khu vực Á đông, có khoảng thời gian Phật giáo trở thành quốc giáo, một tôn giáo được sùng nghi ở mọi khía cạnh góc độ, trở thành cơ sở luận thuyết của xã hội. Việt Nam cũng vậy; vì thế yếu tố sắc không tồn tại luân hữu trong mọi cơ sở luận thuyết như là một điều đương nhiên. Và, con đường đến với thơ ca của cơ sở này ta dễ dàng nhận ra ở một số bài thơ thời Lý - Trần; chẳng hạn ở bài THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG - TRẦN NHÂN TÔNG: Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên – Bán vô bán hữu tịch dương biên - Mục đồng địch lý quy ngưu tân - Bạch lộ song song phi hạ điền (bóng chiều, hơi chiều bãng lãng như khói quyện lấy xóm trước thôn sau –Trong chiều tà dương(ta )chỉ kịp nhận ra “xóm trước thôn sau”ấy như có như không – Trong tiếng sáo của trẻ mục đồng gọi trâu về hết, chỉ còn lại trên cánh đồng đôi cò trắng chao liệng). Đâu là sắc, đâu là không? Bạn thử nghiệm ra “thôn hậu thôn tiền” ở đâu? Cái gì còn lại, cái gì mất đi khi bóng tà dương khép lại một ngày?. Và nữa, đôi cò trắng xuất hiện trong chiều muộn khi trong tiếng sáo mục đồng trâu đã về hết gợi cho bạn điều gì về chỗ thường vô, thường hữu.

Thi ca hiện đại Việt Nam đã từng chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nhà thơ mới lãng mạn (thật ra không lãng mạn trong hình thức và nội dung biểu đạt thì không gọi là mới rồi), nhất là các nhà thơ “Bình Định tứ hổ”(Yến Lan – Quách Tấn - Chế Lan Viên – Hàn Mặc Tử). Với “trường thơ loạn” Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử đã tạo nên một cơn sóng gió trong bước đi lịch sử của thi ca bấy giờ. Riêng Hàn Mặc Tử, người ta hoảng hốt trước những câu thơ táo bạo đậm chất phương Tây mà Tử đã “bình phong địa khởi”: “Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt - Mộng có thành là mộng ở đầu hôm – Hương không ngọt xuân sớm lẽ nào thơm - Mật không đắng ân tình không thú vị”(Dấu tích) và “Tôi đi trên ánh trăng mờ - Tìm con trăng lạc ngoài bờ bến kia - Xứ yêu bát ngát, tôi lìa- Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều”(Chơi trên trăng) hay “Trăng, Trăng, Trăng!LàTrăng, Trăng, Trăng!”(Trăng vàng trăng ngọc). Rõ ràng là Tử đã thể hiện sắc nét những cảm quan của thi ca phương Tây. Thêm nữa, là người của Thiên Chúa, từng học trường dòng, ở Huế giữa lúc thơ ca phương Tây như một cơn gió lạ thổi bùng những cảm khái tâm hồn phương Đông của bao hồn thi sĩ, nên sự ảnh hưởng phương Tây đối với Tử là điều không lạ.

Hãy nhìn những dòng thơ trên, khi mà sự đối ngẫu được được đặt trong hệ quy chiếu của thơ Đường. Lòng thi sĩ buồn vì li biệt nhưng tâm hồn lại luôn nặng trĩu những mộng thường giai nhân. Lòng vĩnh biệt là thực, là ảnh , là sắc- mộng miên man là hư, là không. Hương và mật là hư thì tình là sắc – Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều lại là không.Và như thế, chúng ta lại càng cảm nhận ra trạng huống tâm hồn khơi vơi mộng - thực của Tử.

Bạn đọc còn nhớ, trước khi có mặt trong “Bình Định tứ hổ”, với bút danh Phong Trần, Lệ Thanh, Tử đã khiến bao thi sĩ trong làng thơ sửng sốt. Ngay cả Cụ Phan Bội Châu khi còn là “Ông già Bến Ngự” cũng đã từng mong muốn được gặp tác giả của “Chùa hoang”. Lệ Thanh, Phong Trần là ai? Chắc phải là một người thông kim bác cổ, chân diệu trong làng thơ. Và khi đôi diện với một nhà thơ trẻ, hai người đã đối diện đàm tâm. Những vần thơ Đường của Tử đã khiến Cụ Phan ngưỡng mộ, mặc cho sự kiểm soát, theo dõi của mật thám Pháp.

Như vậy, trước khi có mặt trong “trường thơ loạn”, Tử là con người đặc biệt của thơ ca phương Đông; nghĩa là nhà thơ của chúng ta đã khẳng định mình bằng những cảm quan tinh tế. Ngay cả khi “đau thương” Tử vẫn viết: “Trăng, Trăng, Trăng!LàTrăng, Trăng, Trăng!”(Trăng vàng trăng ngọc). Trăng của niềm thương nỗi nhớ, trăng của sự huyễn tưởng, của đôi bờ mộng - thực nhưng cũng là ánh trăng của chính tâm hồn đang lở lói của Tử. Nói cách khác, trăng là nàng thơ, là nỗi niềm thi nhân nhưng cũng chính trăng là cuộc đời Tử (nàng cũng trăng mà ta cũng trăng). Mộng và thực, sắc và không luôn làm nên những điều kì diệu nhất trong thơ Tử.

Quen thuộc nhất với người mộ điệu thơ Tử là “đây thôn Vĩ Dạ”, một bài thơ đã từng tạo nên nhiều sóng gió nhưng vẫn được chọn giảng dạy trong trường phổ thông. Bài thơ không dài, lời thơ không kiêu kì nhưng lại tạo được nhiều điều trắc ẩn về tâm – tình – tài của Tử. Mở đầu Tử viết: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Và sau đó là bức tranh Vĩ Dạ hiện ra mang một dấu ấn riêng: Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên - Vườn ai mướt quá xanh như ngọc – Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Anh ở đây là ai? Chủ thể của phát ngôn này là ai? Nếu là Tử thì sao lại là sao anh không về, còn nếu là Hoàng Cúc thì tại sao lại là vườn ai mướt quá, lại là lá trúc che ngang mặt chữ điền. Phải có sự xa xôi mới có cách nhìn nhận và đánh giá như thế. Rõ ràng là Tử đang tự vấn lòng mình về với Vĩ Dạ thôn, Tử hỏi mình tại sao không về thôn Vĩ? Phải như thế mới nhận ra được sự xa xôi cách trở về địa lý và cả sự trắc ẩn trong tâm hồn hai người. Sự thật đó phần nào giúp ta nhận diện được tình cảm của Tử đối với Hoàng Cúc. Bức tranh Xứ Huế đẹp nhưng đó lại là sự tưởng tượng, nó ủ mầm chó một sự thật về tình cảm. Hai từ vườn ai - mướt quá từ bản thân nó tạo nên sự xa xôi cách trở. Ở khổ thơ tiếp theo là bức tranh ảo đặc tả một Vĩ Dạ về đêm đầy sự chia lìa trái ngang: Gió theo lối gió – mây đường mây – Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay - Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay? Vậy là, Vĩ Dạ sớm mai liền kề một Vĩ Dạ về đêm nhưng tất cả chỉ là ảo giác, làm cơ sở cho việc bộc bạch tâm trạng. Sự chia lìa của cảnh sắc chính là sự cách trở của tình yêu, tâm hồn hai người. Tử đang hướng về Vĩ Dạ bằng một khoảng cách như là điều dự cảm gió lối gió – mây đường mây, dòng nước buồn – hoa bắp lay. Bờ thực và mộng xuất hiện như là sự trấn an cõi lòng về một sự thật bẽ bàng trong tình yêu. Và rồi trăng xuất hiện nhưng lại là thuyền trăng – sông trăng - bến trăng. Trăng là chốn khơi vơi mộng tưởng nhưng có lúc lại xuất hiện rất thực trong thơ Tử nói cách khác nó là hiện thân của cuộc đời Tử.

Bỏ qua hiện thực tình cảm trong câu thơ, ta chỉ nói đến yếu tố sắc – không trong việc đặc tả ngôn từ thi ca của Tử. Cảnh xứ Huế đẹp nhưng lại là ảo giác, tình cảm chân thành lại từ trong ảo cảnh đó mà hiện ra. Sắc lại là không mà không lại là sắc, thật khó đoán nhận. Ở khổ thơ cuối vấn đề trên lại thể hiện tinh tế hơn: mơ khách đường xa – khách đường xa – áo em trắng quá nhìn không ra - ở đây sương khói mờ nhân ảnh – ai biết tình ai có đậm đà? Hình ảnh áo em trắng quá là hiện thực nhưng không thực, bởi áo em trắng hay tâm hồn em trong trắng, tuổi em trắng trong, thuỷ tinh. Nó hoàn toàn đối lập với hình ảnh Tử một tâm hồn lở lói đau thương mà bệnh tật như là bản án tử hình định sẵn. Vì thế nhìn không ra là phải. Khoảng cách về địa lí không đáng ngại, điều đáng ngại nhất chính là sự giao cảm, đồng cảm của hai tâm hồn. Anh nhìn không ra em nhưng lại đang đối diện với em. Giờ đây, người đọc dễ dàng nhận ra chân dung bài thơ. Bài thơ hay cuộc đời cũng chỉ là sương khói mờ nhân ảnh bởi Tử đã viết- ở đây.. là đang ở đâu? Vĩ Dạ hay Quy Nhơn, ở Tử hay Hoàng Cúc??? Ở trong cuộc đời. Yếu tố sắc – không hiện ra khá rõ nét trong bài thơ.

Sự thật về bài thơ đã rõ. Thơ của Hàn Mặc Tử là vậy, nó vừa là nó vừa không phải là nó; có đấy nhưng lại là không nhưng không mà lại có. Tài năng thi ca của Tử đã thực sự thức tỉnh lòng người về những cung bậc tình cảm và nhất là về cách thức biểu hiện.

Có thể bạn cho rằng thơ của Tử là những vần thơ được bay trên đôi cánh của những tư tưởng thi ca phương Tây đang từng ngày như ngọn gió lạ thổi bùng lên sinh khí thi nhân bấy giờ; đó là điều không thể phủ nhận, thậm chí Tử chịu ảnh hưởng rất lớn. Nhưng khách quan mà nói, những vần thơ lãng mạn siêu thực của phương tây không dễ dàng đối với việc tiếp nhận của công chúng bấy giờ. Còn nhớ, ngày 10 – 3 – 1932 cuộc bút chiến giữa thơ cũ và thơ mới lãng mạn Việt Nam bắt đầu “khai hoả”, nghĩa là tại thời điểm đó thơ mới lãng mạn mới bắt đầu đi vào cảm quan tiếp nhận của độc giả với cái tôi bản ngã (le moi) đầy lạ lẫm; thì yếu tố lãng mạn siêu thực (cái trên tôi, cái tự thức của bản năng, ngẫu hứng, cái phi logic trong cấu trúc) chỉ là cái thoảng qua, xa vời. Như thế, Hàn Mặc Tử đã khéo léo thể hiện mình bằng những vần thơ trác tuyệt mà ở đó yếu tố (nhấn mạnh- chỉ là yếu tố) sắc – không là bước đi nghệ thuật đặc sắc của tác giả.

Hơn 60 năm kể từ ngày Hàn Mặc Tử ra đi, đọc lại thơ ông ta vẫn thấy biết bao điều còn bỏ ngỏ trong cách hiểu, giải mã, khám phá. Bài viết này chỉ là việc nêu ra một ý tưởng từ việc nhận diện một một số tác phẩm của Hàn Mặc Tử mà thôi.%

H. T. L




04.9. 2008 TRANG THƠ BÈ BẠN




TRANG THƠ BÈ BẠN





*Hoàng Tấn Linh :
Quê Làng Câu Nhi, Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị. Tốt nghiệp ĐHSP Văn. Dạy học, làm thơ, giỏi chữ Hán, là "Cụ Cử thời @"mặc dù tuổi rất trẻ. Hiện công tác tại trường THPT Hải Lăng.

BẤT CHỢT


Bất chợt ngày qua trong mưa
Tự nhiên thấy lòng tím nhớ
Và khi chiếc lá giao mùa
Lòng mình theo mây về núi.

Bất chợt từ trong trang sách
Tình yêu như khói như sương,
Ngày mang dấu hài qua ngõ
Mong manh như nắng bên đường.

Bất chợt gặp người từ độ
Bùa yêu như chiếc nỏ thần
Tự nhiên thấy lòng nắng lạ
Mùa đi riêng mang riêng mang.

Bất chợt ngày qua rất vội
Ô kìa nắng hắt bên sông
Heo may cơ hồ trong gió
Theo về trong mắt nhớ nhung.

Bất chợt gặp mình, bất chợt
Cỏ mềm chiếc lá trên mi
Còn có bao lần bất chợt
Đầy vơi hạt nắng xuân thì.


Hoàng Tấn Linh




YẾU TỐ SẮC – KHÔNG

TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

(Nhận diện )

Hoàng Tấn Linh

Sắc – không là chỗ thuần nhất trong nguyên lí tồn nguyên của đạo Phật. Sắc là chân của ảnh, không là chỗ tồn nguyên của hư, trong ảnh có hư, trong sắc là không, chỗ thừa hữu tồn tại trong thường khuyết tạo nên sự hằng thường của niệm sống. Sắc – không tồn tại trong ý niệm của chúng ta xưa nay, tạo nên chỗ khép kín những ý niệm về cơ sở vũ trụ và con người tâm linh.

Ở một số nước trong khu vực Á đông, có khoảng thời gian Phật giáo trở thành quốc giáo, một tôn giáo được sùng nghi ở mọi khía cạnh góc độ, trở thành cơ sở luận thuyết của xã hội. Việt Nam cũng vậy; vì thế yếu tố sắc không tồn tại luân hữu trong mọi cơ sở luận thuyết như là một điều đương nhiên. Và, con đường đến với thơ ca của cơ sở này ta dễ dàng nhận ra ở một số bài thơ thời Lý - Trần; chẳng hạn ở bài THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG - TRẦN NHÂN TÔNG: Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên – Bán vô bán hữu tịch dương biên - Mục đồng địch lý quy ngưu tân - Bạch lộ song song phi hạ điền (bóng chiều, hơi chiều bãng lãng như khói quyện lấy xóm trước thôn sau –Trong chiều tà dương(ta )chỉ kịp nhận ra “xóm trước thôn sau”ấy như có như không – Trong tiếng sáo của trẻ mục đồng gọi trâu về hết, chỉ còn lại trên cánh đồng đôi cò trắng chao liệng). Đâu là sắc, đâu là không? Bạn thử nghiệm ra “thôn hậu thôn tiền” ở đâu? Cái gì còn lại, cái gì mất đi khi bóng tà dương khép lại một ngày?. Và nữa, đôi cò trắng xuất hiện trong chiều muộn khi trong tiếng sáo mục đồng trâu đã về hết gợi cho bạn điều gì về chỗ thường vô, thường hữu.

Thi ca hiện đại Việt Nam đã từng chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nhà thơ mới lãng mạn (thật ra không lãng mạn trong hình thức và nội dung biểu đạt thì không gọi là mới rồi), nhất là các nhà thơ “Bình Định tứ hổ”(Yến Lan – Quách Tấn - Chế Lan Viên – Hàn Mặc Tử). Với “trường thơ loạn” Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử đã tạo nên một cơn sóng gió trong bước đi lịch sử của thi ca bấy giờ. Riêng Hàn Mặc Tử, người ta hoảng hốt trước những câu thơ táo bạo đậm chất phương Tây mà Tử đã “bình phong địa khởi”: “Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt - Mộng có thành là mộng ở đầu hôm – Hương không ngọt xuân sớm lẽ nào thơm - Mật không đắng ân tình không thú vị”(Dấu tích) và “Tôi đi trên ánh trăng mờ - Tìm con trăng lạc ngoài bờ bến kia - Xứ yêu bát ngát, tôi lìa- Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều”(Chơi trên trăng) hay “Trăng, Trăng, Trăng!LàTrăng, Trăng, Trăng!”(Trăng vàng trăng ngọc). Rõ ràng là Tử đã thể hiện sắc nét những cảm quan của thi ca phương Tây. Thêm nữa, là người của Thiên Chúa, từng học trường dòng, ở Huế giữa lúc thơ ca phương Tây như một cơn gió lạ thổi bùng những cảm khái tâm hồn phương Đông của bao hồn thi sĩ, nên sự ảnh hưởng phương Tây đối với Tử là điều không lạ.

Hãy nhìn những dòng thơ trên, khi mà sự đối ngẫu được được đặt trong hệ quy chiếu của thơ Đường. Lòng thi sĩ buồn vì li biệt nhưng tâm hồn lại luôn nặng trĩu những mộng thường giai nhân. Lòng vĩnh biệt là thực, là ảnh , là sắc- mộng miên man là hư, là không. Hương và mật là hư thì tình là sắc – Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều lại là không.Và như thế, chúng ta lại càng cảm nhận ra trạng huống tâm hồn khơi vơi mộng - thực của Tử.

Bạn đọc còn nhớ, trước khi có mặt trong “Bình Định tứ hổ”, với bút danh Phong Trần, Lệ Thanh, Tử đã khiến bao thi sĩ trong làng thơ sửng sốt. Ngay cả Cụ Phan Bội Châu khi còn là “Ông già Bến Ngự” cũng đã từng mong muốn được gặp tác giả của “Chùa hoang”. Lệ Thanh, Phong Trần là ai? Chắc phải là một người thông kim bác cổ, chân diệu trong làng thơ. Và khi đôi diện với một nhà thơ trẻ, hai người đã đối diện đàm tâm. Những vần thơ Đường của Tử đã khiến Cụ Phan ngưỡng mộ, mặc cho sự kiểm soát, theo dõi của mật thám Pháp.

Như vậy, trước khi có mặt trong “trường thơ loạn”, Tử là con người đặc biệt của thơ ca phương Đông; nghĩa là nhà thơ của chúng ta đã khẳng định mình bằng những cảm quan tinh tế. Ngay cả khi “đau thương” Tử vẫn viết: “Trăng, Trăng, Trăng!LàTrăng, Trăng, Trăng!”(Trăng vàng trăng ngọc). Trăng của niềm thương nỗi nhớ, trăng của sự huyễn tưởng, của đôi bờ mộng - thực nhưng cũng là ánh trăng của chính tâm hồn đang lở lói của Tử. Nói cách khác, trăng là nàng thơ, là nỗi niềm thi nhân nhưng cũng chính trăng là cuộc đời Tử (nàng cũng trăng mà ta cũng trăng). Mộng và thực, sắc và không luôn làm nên những điều kì diệu nhất trong thơ Tử.

Quen thuộc nhất với người mộ điệu thơ Tử là “đây thôn Vĩ Dạ”, một bài thơ đã từng tạo nên nhiều sóng gió nhưng vẫn được chọn giảng dạy trong trường phổ thông. Bài thơ không dài, lời thơ không kiêu kì nhưng lại tạo được nhiều điều trắc ẩn về tâm – tình – tài của Tử. Mở đầu Tử viết: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Và sau đó là bức tranh Vĩ Dạ hiện ra mang một dấu ấn riêng: Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên - Vườn ai mướt quá xanh như ngọc – Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Anh ở đây là ai? Chủ thể của phát ngôn này là ai? Nếu là Tử thì sao lại là sao anh không về, còn nếu là Hoàng Cúc thì tại sao lại là vườn ai mướt quá, lại là lá trúc che ngang mặt chữ điền. Phải có sự xa xôi mới có cách nhìn nhận và đánh giá như thế. Rõ ràng là Tử đang tự vấn lòng mình về với Vĩ Dạ thôn, Tử hỏi mình tại sao không về thôn Vĩ? Phải như thế mới nhận ra được sự xa xôi cách trở về địa lý và cả sự trắc ẩn trong tâm hồn hai người. Sự thật đó phần nào giúp ta nhận diện được tình cảm của Tử đối với Hoàng Cúc. Bức tranh Xứ Huế đẹp nhưng đó lại là sự tưởng tượng, nó ủ mầm chó một sự thật về tình cảm. Hai từ vườn ai - mướt quá từ bản thân nó tạo nên sự xa xôi cách trở. Ở khổ thơ tiếp theo là bức tranh ảo đặc tả một Vĩ Dạ về đêm đầy sự chia lìa trái ngang: Gió theo lối gió – mây đường mây – Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay - Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay? Vậy là, Vĩ Dạ sớm mai liền kề một Vĩ Dạ về đêm nhưng tất cả chỉ là ảo giác, làm cơ sở cho việc bộc bạch tâm trạng. Sự chia lìa của cảnh sắc chính là sự cách trở của tình yêu, tâm hồn hai người. Tử đang hướng về Vĩ Dạ bằng một khoảng cách như là điều dự cảm gió lối gió – mây đường mây, dòng nước buồn – hoa bắp lay. Bờ thực và mộng xuất hiện như là sự trấn an cõi lòng về một sự thật bẽ bàng trong tình yêu. Và rồi trăng xuất hiện nhưng lại là thuyền trăng – sông trăng - bến trăng. Trăng là chốn khơi vơi mộng tưởng nhưng có lúc lại xuất hiện rất thực trong thơ Tử nói cách khác nó là hiện thân của cuộc đời Tử.

Bỏ qua hiện thực tình cảm trong câu thơ, ta chỉ nói đến yếu tố sắc – không trong việc đặc tả ngôn từ thi ca của Tử. Cảnh xứ Huế đẹp nhưng lại là ảo giác, tình cảm chân thành lại từ trong ảo cảnh đó mà hiện ra. Sắc lại là không mà không lại là sắc, thật khó đoán nhận. Ở khổ thơ cuối vấn đề trên lại thể hiện tinh tế hơn: mơ khách đường xa – khách đường xa – áo em trắng quá nhìn không ra - ở đây sương khói mờ nhân ảnh – ai biết tình ai có đậm đà? Hình ảnh áo em trắng quá là hiện thực nhưng không thực, bởi áo em trắng hay tâm hồn em trong trắng, tuổi em trắng trong, thuỷ tinh. Nó hoàn toàn đối lập với hình ảnh Tử một tâm hồn lở lói đau thương mà bệnh tật như là bản án tử hình định sẵn. Vì thế nhìn không ra là phải. Khoảng cách về địa lí không đáng ngại, điều đáng ngại nhất chính là sự giao cảm, đồng cảm của hai tâm hồn. Anh nhìn không ra em nhưng lại đang đối diện với em. Giờ đây, người đọc dễ dàng nhận ra chân dung bài thơ. Bài thơ hay cuộc đời cũng chỉ là sương khói mờ nhân ảnh bởi Tử đã viết- ở đây.. là đang ở đâu? Vĩ Dạ hay Quy Nhơn, ở Tử hay Hoàng Cúc??? Ở trong cuộc đời. Yếu tố sắc – không hiện ra khá rõ nét trong bài thơ.

Sự thật về bài thơ đã rõ. Thơ của Hàn Mặc Tử là vậy, nó vừa là nó vừa không phải là nó; có đấy nhưng lại là không nhưng không mà lại có. Tài năng thi ca của Tử đã thực sự thức tỉnh lòng người về những cung bậc tình cảm và nhất là về cách thức biểu hiện.

Có thể bạn cho rằng thơ của Tử là những vần thơ được bay trên đôi cánh của những tư tưởng thi ca phương Tây đang từng ngày như ngọn gió lạ thổi bùng lên sinh khí thi nhân bấy giờ; đó là điều không thể phủ nhận, thậm chí Tử chịu ảnh hưởng rất lớn. Nhưng khách quan mà nói, những vần thơ lãng mạn siêu thực của phương tây không dễ dàng đối với việc tiếp nhận của công chúng bấy giờ. Còn nhớ, ngày 10 – 3 – 1932 cuộc bút chiến giữa thơ cũ và thơ mới lãng mạn Việt Nam bắt đầu “khai hoả”, nghĩa là tại thời điểm đó thơ mới lãng mạn mới bắt đầu đi vào cảm quan tiếp nhận của độc giả với cái tôi bản ngã (le moi) đầy lạ lẫm; thì yếu tố lãng mạn siêu thực (cái trên tôi, cái tự thức của bản năng, ngẫu hứng, cái phi logic trong cấu trúc) chỉ là cái thoảng qua, xa vời. Như thế, Hàn Mặc Tử đã khéo léo thể hiện mình bằng những vần thơ trác tuyệt mà ở đó yếu tố (nhấn mạnh- chỉ là yếu tố) sắc – không là bước đi nghệ thuật đặc sắc của tác giả.

Hơn 60 năm kể từ ngày Hàn Mặc Tử ra đi, đọc lại thơ ông ta vẫn thấy biết bao điều còn bỏ ngỏ trong cách hiểu, giải mã, khám phá. Bài viết này chỉ là việc nêu ra một ý tưởng từ việc nhận diện một một số tác phẩm của Hàn Mặc Tử mà thôi.%

H. T. L




Thứ Tư, 23 tháng 7, 2008

23.07.2008 Trang thơ bè bạn




TRƯƠNG ĐỨC MINH TỨ

Quê Đông Hà, Quảng Trị. Cử nhân Ngữ văn, cử nhân Luật. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội VHNT Quảng Trị. Hiện là Phó Tổng biên tập Báo Quảng Trị. Anh đã đoạt nhiều Giải Báo chí toàn quốc Hội Nhà báo Việt Nam và địa phương.Ngoài các tác phẩm in chung, anh đã có 2 tập bút ký, phóng sự, ghi chép và một tập truyện ngắn đã in:

-Cỏ xanh dưới chân Thành Cổ- Hội Nhà báo Quảng Trị - 1999

-Thông điệp cho mai sau- Hội Nhà báo Quảng Trị - 2002

-Hương rừng - Tập truyện ngắn- Hội VH-NT Quảng Trị - 2005

Là nhà báo, nhà quản lý năng động, anh đã đi sâu đi sát nhiều nơi nên tác phẩm của anh đậm chất hiện thực cuộc sống, chất báo chí hòa trộn chất văn học nên các trang viết của anh đã, đang và sẽ bền vững theo thời gian…

Gửi Ba thân yêu


Nhớ thương con ba tìm lên phố núi

gặp lại ba con đến sững sờ

Sao ba không báo cho con biết trước

đường ngái xa xôi ba đi làm chi!



Bạn bè con đến thăm

Con không tự hào về người cha có học vấn uyên thâm

bởi tuổi nhỏ ba phải cuốc cày nuôi con có thời gian đâu để học

Con không tự hào về người cha biết nói lời có cánh để đẹp lòng mọi người

bởi ba quen sống giản đơn như loài thảo mộc


Nhưng con tự hào biết bao

về ba thân yêu...

Nhớ những đêm khuya gối đầu ba để ngũ

nghe ba đọc những câu thơ xưa về đạo lý làm người

Cho con lớn lên biết lo toan suy nghĩ

sống làm sao vững chải ở trên đời.

* * *

Đêm cuối Pleiku ba không ngũ được

con cũng trở trăn dậy đốt lửa pha trà

Bên ngoài trời sương đêm và gió núi

Trang viết của con nước mắt đẫm nhạt nhòa


Mai ba lại về với vùng quê cát trắng

gió Lào trưa thổi rát lưng người

Lại lặn lội trên đồng sâu, đồng cạn

nhớ thương con nhìn bóng núi xa mờ.






Viết ngày ba lên thăm con ở Pleiku

Tháng 8.1988


Đi mãi bên đời với tình yêu hoa lá






(Gửi cô giáo Võ Thị Quỳnh)


Cách đây đã lâu, trong một dịp vào Huế, tôi rẻ thăm vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Hà. Thật thú vị khi tôi thấy cô giáo Võ Thị Quỳnh đang ngồi tỉ mẩn ghép những chiếc lá, cành hoa thành những bức tranh hoa lá ép. Bỗng dưng từ dạo đó tôi trở thành người yêu tranh của chị và dịp nào đi triển lãm tranh tôi cũng được chị mời dự. Đáp lại tấm lòng của chị, những bài báo nhỏ: "Từ trò chơi tuổi thơ đến nghệ thuật độc đáo"; "Người ép tâm hồn vào tranh" của tôi đăng trên báo như gửi gắm tình cảm của một người yêu tranh của chị đến từ quê nhà

Triển lãm tranh hoa lá của chị gây ấn tượng nhất là năm 2001. Chọn thời điểm mùa thu đầu tiên của thế kỷ XXI để triển lãm tranh hoa lá ép của mình tại phòng tranh Bích Câu, Cung Văn hóa lao động, 55B- Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, TP Hồ Chí Minh là thêm một bằng chứng bền lòng đi cùng hoa, sắt son một tình yêu cuộc sống, tình yêu nghệ thuật của cô giáo Võ Thị Quỳnh. Đây là triển lãm tranh thứ tư của Quỳnh. Trước đó chị đã từng triển lãm cũng vào dịp mùa thu ở thành phố Đà Nẵng - 8/1993, tại cố đô Huế -8/1994, tại thủ đô Hà Nội- 8/1998.

Tâm sự với người yêu tranh hoa lá ép của mình, Quỳnh bộc bạch: "Ngày còn thơ bé nào ai đã hiểu rõ nghĩa cuộc đời. Yêu thích vẻ đẹp cỏ hoa, tôi cũng như bao bạn trẻ khác hái hoa lá cỏ cây ép vào trang vở học trò. Một lá thuộc bài để học bài mau thuộc. Một lá cây phú quý cho ước mơ đời mẹ, đời cha đỡ vất vả gian lao. Một cành hoa cải, hoa tầng ơ (cải cúc) để nhớ cánh đồng hoa vàng đậm nhạt nơi quê nhà yêu dấu...Bao nhiêu cánh hoa, cành lá là bao nhiêu mơ ước, kỷ niệm học trò, là bao nhiêu tình cảm ngây thơ hồn nhiên trong sáng"

Có thể nói từ trò chơi tuổi thơ trong trẻo đến nghệ thuật độc đáo- tranh hoa lá ép, được nuôi dưỡng bằng một tình yêu đến cháy lòng những kiếp lá, đời hoa của cô giáo Quỳnh. Cha Quỳnh vốn là thầy thuốc Bắc, thuốc Nam, hay rong ruỗi trên những nẻo đường tìm cây thuốc mong trị bệnh cứu người. Thời thơ bé, Quỳnh thường được theo cha, theo mẹ về quê, đi đây đi đó. Những con đường thơ ấu của Quỳnh được xây bằng mộng mơ của những sắc màu hoa bướm, của những kiếp đời hoa quá ngắn ngũi và mong manh. Đôi khi Quỳnh tự hỏi có phải vì mang tên một loài hoa nở về đêm nên sâu thẳm trong tiềm thức luôn nhớ nhung khát khao đời sống âm vang của những cây hoa khoe sắc dưới ánh nắng mặt trời? hay vì Quỳnh là con của một vùng đất khô cằn sỏi đá, đầy gió nắng khắc nghiệt của khúc ruột miền Trung mà vấn vương muôn đời những dị thảo, kỳ hoa thiên nhiên ban tặng?

Đi mãi bên đời với tình yêu ấy, hoa lá cỏ cây đã an ủi Quỳnh, tâm tình cùng chị và đã cho chị những phát sáng yêu đời. Cũng chính vì vậy mà chị luôn nâng niu, gìn giữ kỷ niệm. Cả một cuốn sổ lưu niệm thời học trò khá đầy đặn hoa lá ép từ tuổi mười hai, mười ba vẫn còn đó, cả những vần thơ từ vũ trụ hoa đã khởi thức cho chị về một loại "thư pháp hoa".

Xem tranh hoa lá ép, chợt thấy thức dậy những ý niệm về chị. Khi mùa thu về, lá vàng bắt đầu rụng nhưng kiếp lá, đời hoa trở nên bất tử với chị, trở thành khúc nhạc dương cầm. Những bức tranh như: Quê nhà, Đuổi theo bóng chiều, Mùa lá, Hương đồng, Lá hoa thơ, Hội làng, Áo trắng, Ngôi nhà cổ tích...gợi nhớ trong người xem một ký ức đẹp, trong trẻo của ngày đã qua. Là cô giáo dạy Văn học, tranh của chị không chỉ là những hình ảnh của thế giới xung quanh như các bức: Quốc học dấu yêu, mái trường xưa, hành tinh xanh, Giai điệu hoa...mà còn đi vào chiều sâu của hình tượng văn học như: Cung đàn không dành cho Từ Hải, Đêm Ai Cập, Đêm có sáu vì sao...Là những rung động tinh tế trước thiên nhiên với bao sắc màu lung linh, kỳ ảo: Mùa lá, Mộng mơ, Dịu dàng, Đêm, Điệu nhớ...hay là những nét chấm phá về cuộc sống đời thường: Dạ vũ, mãi mãi bên nhau, Em là cố nhân, Thời trang mùa thu, Niềm vui thầm lặng, hạnh phúc, Người ngồi ta vẽ tặng...

Tranh của Võ Thị Quỳnh mỗi bức mỗi vẻ. Từ sắc màu mộc mạc, đơn sơ, chị đã kết nên lời tự tình về cuộc sống gần gũi, thiết thân, đưa tâm hồn con người vươn đến khát vọng cháy bỏng về tình yêu thiên nhiên, con người. Đằng sau những cành hoa, chiếc lá, với bàn tay khéo léo sắp đặt của chị đã làm sống mãi những đời hoa, kiếp lá, làm cho nó vĩnh hằng với thời gian. Vẫn biết sự vật nào trên đời theo thời gian rồi cũng đổi thay, nhưng bằng tâm hồn của con người nghệ sĩ với những rung cảm tinh tế để tái hiện những âm thanh, hình ảnh của thế giới xung quanh đến bên con người với một sức sống vĩnh cửu, như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng viết về tranh của chị: "Hóa ra, với Võ Thị Quỳnh, sự sáng tạo hoàn toàn vẫn giữ nguyên sức mạnh của nó. Bằng lá và hoa ép khô, tác giả vẫn tạo nên chất thanh thoát và tự do của những tác phẩm hội họa. Bây giờ thì đúng như thế: nghệ sĩ đã thổi linh hồn của mình lên chất liệu để tạo nên những tác phẩm hội họa".

Người xem tranh mỗi người mỗi cảm nhận riêng về loại hình nghệ thuật độc đáo này, duy có một điều mà ít ai biết đến là tranh ép hoa lá của chị được dệt nên bằng một trái tim thiết tha yêu nghệ thuật, đã sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật thực sự gây ấn tượng nhưng chị chưa hề được qua một trường lớp sáng tạo mỹ thuật nào cả. Có lần Quỳnh đã giải bày: "Bền lòng đi cùng hoa, sắt son một tình yêu cuộc sống, tình yêu nghệ thuật song tôi vẫn tự biết rằng ở tuổi tôi (chị sinh năm 1954) mà vẫn chưa qua một trường lớp mỹ thuật nào thì mối tình đầu dẫu có thắm thiết, thủy chung đến bao nhiêu cũng khó có ngày cưới hoa lộng lẫy nụ cười"

Nói là nói vậy nhưng với Võ Thị Quỳnh, sự sáng tạo vượt ra ngoài mục đích bình thường để trở nên phát sáng, dâng hiến cho đời những vẻ đẹp bất tử, để cho những chiếc lá, đời hoa không còn chịu cảnh "sớm nở tối tàn" và ít nhất một lần được xem tranh của chị, chúng ta cảm nhận được rằng, nghệ thuật có muôn nẻo đi, có lối đi nhỏ nhưng đi thẳng vào chiều sâu của trái tim. Bởi vậy dù không có mục đích thuần túy làm nghệ thuật nhưng trái tim người nghệ sĩ của chị vẫn đi mãi bên đời với tình yêu hoa lá, và dù có nhiều triển lãm tranh ở khắp nơi, chị vẫn ước ao rằng có một ngày thu nào đó, chị được đưa tranh hoa lá ép của mình về triển lãm ở quê nhà Quảng Trị dấu yêu, nơi mảnh đất sinh thành của chị, nơi đã dưỡng nuôi trong chị một tình yêu nghệ thuật bằng những kỷ niệm thời thơ ấu mà cho đến bây giờ còn hiển hiện trong tranh chị lấp lánh, ước vọng và thủy chung.

(8/2001)





23.07.2008 Trang thơ bè bạn




TRƯƠNG ĐỨC MINH TỨ

Quê Đông Hà, Quảng Trị. Cử nhân Ngữ văn, cử nhân Luật. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội VHNT Quảng Trị. Hiện là Phó Tổng biên tập Báo Quảng Trị. Anh đã đoạt nhiều Giải Báo chí toàn quốc Hội Nhà báo Việt Nam và địa phương.Ngoài các tác phẩm in chung, anh đã có 2 tập bút ký, phóng sự, ghi chép và một tập truyện ngắn đã in:

-Cỏ xanh dưới chân Thành Cổ- Hội Nhà báo Quảng Trị - 1999

-Thông điệp cho mai sau- Hội Nhà báo Quảng Trị - 2002

-Hương rừng - Tập truyện ngắn- Hội VH-NT Quảng Trị - 2005

Là nhà báo, nhà quản lý năng động, anh đã đi sâu đi sát nhiều nơi nên tác phẩm của anh đậm chất hiện thực cuộc sống, chất báo chí hòa trộn chất văn học nên các trang viết của anh đã, đang và sẽ bền vững theo thời gian…

Gửi Ba thân yêu


Nhớ thương con ba tìm lên phố núi

gặp lại ba con đến sững sờ

Sao ba không báo cho con biết trước

đường ngái xa xôi ba đi làm chi!



Bạn bè con đến thăm

Con không tự hào về người cha có học vấn uyên thâm

bởi tuổi nhỏ ba phải cuốc cày nuôi con có thời gian đâu để học

Con không tự hào về người cha biết nói lời có cánh để đẹp lòng mọi người

bởi ba quen sống giản đơn như loài thảo mộc


Nhưng con tự hào biết bao

về ba thân yêu...

Nhớ những đêm khuya gối đầu ba để ngũ

nghe ba đọc những câu thơ xưa về đạo lý làm người

Cho con lớn lên biết lo toan suy nghĩ

sống làm sao vững chải ở trên đời.

* * *

Đêm cuối Pleiku ba không ngũ được

con cũng trở trăn dậy đốt lửa pha trà

Bên ngoài trời sương đêm và gió núi

Trang viết của con nước mắt đẫm nhạt nhòa


Mai ba lại về với vùng quê cát trắng

gió Lào trưa thổi rát lưng người

Lại lặn lội trên đồng sâu, đồng cạn

nhớ thương con nhìn bóng núi xa mờ.






Viết ngày ba lên thăm con ở Pleiku

Tháng 8.1988


Đi mãi bên đời với tình yêu hoa lá






(Gửi cô giáo Võ Thị Quỳnh)


Cách đây đã lâu, trong một dịp vào Huế, tôi rẻ thăm vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Hà. Thật thú vị khi tôi thấy cô giáo Võ Thị Quỳnh đang ngồi tỉ mẩn ghép những chiếc lá, cành hoa thành những bức tranh hoa lá ép. Bỗng dưng từ dạo đó tôi trở thành người yêu tranh của chị và dịp nào đi triển lãm tranh tôi cũng được chị mời dự. Đáp lại tấm lòng của chị, những bài báo nhỏ: "Từ trò chơi tuổi thơ đến nghệ thuật độc đáo"; "Người ép tâm hồn vào tranh" của tôi đăng trên báo như gửi gắm tình cảm của một người yêu tranh của chị đến từ quê nhà

Triển lãm tranh hoa lá của chị gây ấn tượng nhất là năm 2001. Chọn thời điểm mùa thu đầu tiên của thế kỷ XXI để triển lãm tranh hoa lá ép của mình tại phòng tranh Bích Câu, Cung Văn hóa lao động, 55B- Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, TP Hồ Chí Minh là thêm một bằng chứng bền lòng đi cùng hoa, sắt son một tình yêu cuộc sống, tình yêu nghệ thuật của cô giáo Võ Thị Quỳnh. Đây là triển lãm tranh thứ tư của Quỳnh. Trước đó chị đã từng triển lãm cũng vào dịp mùa thu ở thành phố Đà Nẵng - 8/1993, tại cố đô Huế -8/1994, tại thủ đô Hà Nội- 8/1998.

Tâm sự với người yêu tranh hoa lá ép của mình, Quỳnh bộc bạch: "Ngày còn thơ bé nào ai đã hiểu rõ nghĩa cuộc đời. Yêu thích vẻ đẹp cỏ hoa, tôi cũng như bao bạn trẻ khác hái hoa lá cỏ cây ép vào trang vở học trò. Một lá thuộc bài để học bài mau thuộc. Một lá cây phú quý cho ước mơ đời mẹ, đời cha đỡ vất vả gian lao. Một cành hoa cải, hoa tầng ơ (cải cúc) để nhớ cánh đồng hoa vàng đậm nhạt nơi quê nhà yêu dấu...Bao nhiêu cánh hoa, cành lá là bao nhiêu mơ ước, kỷ niệm học trò, là bao nhiêu tình cảm ngây thơ hồn nhiên trong sáng"

Có thể nói từ trò chơi tuổi thơ trong trẻo đến nghệ thuật độc đáo- tranh hoa lá ép, được nuôi dưỡng bằng một tình yêu đến cháy lòng những kiếp lá, đời hoa của cô giáo Quỳnh. Cha Quỳnh vốn là thầy thuốc Bắc, thuốc Nam, hay rong ruỗi trên những nẻo đường tìm cây thuốc mong trị bệnh cứu người. Thời thơ bé, Quỳnh thường được theo cha, theo mẹ về quê, đi đây đi đó. Những con đường thơ ấu của Quỳnh được xây bằng mộng mơ của những sắc màu hoa bướm, của những kiếp đời hoa quá ngắn ngũi và mong manh. Đôi khi Quỳnh tự hỏi có phải vì mang tên một loài hoa nở về đêm nên sâu thẳm trong tiềm thức luôn nhớ nhung khát khao đời sống âm vang của những cây hoa khoe sắc dưới ánh nắng mặt trời? hay vì Quỳnh là con của một vùng đất khô cằn sỏi đá, đầy gió nắng khắc nghiệt của khúc ruột miền Trung mà vấn vương muôn đời những dị thảo, kỳ hoa thiên nhiên ban tặng?

Đi mãi bên đời với tình yêu ấy, hoa lá cỏ cây đã an ủi Quỳnh, tâm tình cùng chị và đã cho chị những phát sáng yêu đời. Cũng chính vì vậy mà chị luôn nâng niu, gìn giữ kỷ niệm. Cả một cuốn sổ lưu niệm thời học trò khá đầy đặn hoa lá ép từ tuổi mười hai, mười ba vẫn còn đó, cả những vần thơ từ vũ trụ hoa đã khởi thức cho chị về một loại "thư pháp hoa".

Xem tranh hoa lá ép, chợt thấy thức dậy những ý niệm về chị. Khi mùa thu về, lá vàng bắt đầu rụng nhưng kiếp lá, đời hoa trở nên bất tử với chị, trở thành khúc nhạc dương cầm. Những bức tranh như: Quê nhà, Đuổi theo bóng chiều, Mùa lá, Hương đồng, Lá hoa thơ, Hội làng, Áo trắng, Ngôi nhà cổ tích...gợi nhớ trong người xem một ký ức đẹp, trong trẻo của ngày đã qua. Là cô giáo dạy Văn học, tranh của chị không chỉ là những hình ảnh của thế giới xung quanh như các bức: Quốc học dấu yêu, mái trường xưa, hành tinh xanh, Giai điệu hoa...mà còn đi vào chiều sâu của hình tượng văn học như: Cung đàn không dành cho Từ Hải, Đêm Ai Cập, Đêm có sáu vì sao...Là những rung động tinh tế trước thiên nhiên với bao sắc màu lung linh, kỳ ảo: Mùa lá, Mộng mơ, Dịu dàng, Đêm, Điệu nhớ...hay là những nét chấm phá về cuộc sống đời thường: Dạ vũ, mãi mãi bên nhau, Em là cố nhân, Thời trang mùa thu, Niềm vui thầm lặng, hạnh phúc, Người ngồi ta vẽ tặng...

Tranh của Võ Thị Quỳnh mỗi bức mỗi vẻ. Từ sắc màu mộc mạc, đơn sơ, chị đã kết nên lời tự tình về cuộc sống gần gũi, thiết thân, đưa tâm hồn con người vươn đến khát vọng cháy bỏng về tình yêu thiên nhiên, con người. Đằng sau những cành hoa, chiếc lá, với bàn tay khéo léo sắp đặt của chị đã làm sống mãi những đời hoa, kiếp lá, làm cho nó vĩnh hằng với thời gian. Vẫn biết sự vật nào trên đời theo thời gian rồi cũng đổi thay, nhưng bằng tâm hồn của con người nghệ sĩ với những rung cảm tinh tế để tái hiện những âm thanh, hình ảnh của thế giới xung quanh đến bên con người với một sức sống vĩnh cửu, như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng viết về tranh của chị: "Hóa ra, với Võ Thị Quỳnh, sự sáng tạo hoàn toàn vẫn giữ nguyên sức mạnh của nó. Bằng lá và hoa ép khô, tác giả vẫn tạo nên chất thanh thoát và tự do của những tác phẩm hội họa. Bây giờ thì đúng như thế: nghệ sĩ đã thổi linh hồn của mình lên chất liệu để tạo nên những tác phẩm hội họa".

Người xem tranh mỗi người mỗi cảm nhận riêng về loại hình nghệ thuật độc đáo này, duy có một điều mà ít ai biết đến là tranh ép hoa lá của chị được dệt nên bằng một trái tim thiết tha yêu nghệ thuật, đã sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật thực sự gây ấn tượng nhưng chị chưa hề được qua một trường lớp sáng tạo mỹ thuật nào cả. Có lần Quỳnh đã giải bày: "Bền lòng đi cùng hoa, sắt son một tình yêu cuộc sống, tình yêu nghệ thuật song tôi vẫn tự biết rằng ở tuổi tôi (chị sinh năm 1954) mà vẫn chưa qua một trường lớp mỹ thuật nào thì mối tình đầu dẫu có thắm thiết, thủy chung đến bao nhiêu cũng khó có ngày cưới hoa lộng lẫy nụ cười"

Nói là nói vậy nhưng với Võ Thị Quỳnh, sự sáng tạo vượt ra ngoài mục đích bình thường để trở nên phát sáng, dâng hiến cho đời những vẻ đẹp bất tử, để cho những chiếc lá, đời hoa không còn chịu cảnh "sớm nở tối tàn" và ít nhất một lần được xem tranh của chị, chúng ta cảm nhận được rằng, nghệ thuật có muôn nẻo đi, có lối đi nhỏ nhưng đi thẳng vào chiều sâu của trái tim. Bởi vậy dù không có mục đích thuần túy làm nghệ thuật nhưng trái tim người nghệ sĩ của chị vẫn đi mãi bên đời với tình yêu hoa lá, và dù có nhiều triển lãm tranh ở khắp nơi, chị vẫn ước ao rằng có một ngày thu nào đó, chị được đưa tranh hoa lá ép của mình về triển lãm ở quê nhà Quảng Trị dấu yêu, nơi mảnh đất sinh thành của chị, nơi đã dưỡng nuôi trong chị một tình yêu nghệ thuật bằng những kỷ niệm thời thơ ấu mà cho đến bây giờ còn hiển hiện trong tranh chị lấp lánh, ước vọng và thủy chung.

(8/2001)





Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2008

07.7. 2008 TRANG THƠ BÈ BẠN

Nguyễn Khắc Phước

Quê Lương Điền, Hải Sơn, Hải Lăng. Hiện anh là nhà giáo ở thành phố Đà Nẵng. Đam mê thơ văn từ nhỏ, thơ anh chất chứa nổi niềm yêu thương nhân thế.Anh không chỉ dạy giỏi Tiếng Anh mà còn giỏi Tiếng Em.Sau chuyến về quê vừa rồi, chúc anh sự nghiệp thơ văn tiếp tục trào ra ngọn bút!

MẮT BỒ CÂU

Về qua chợ Sãi tần ngần
hỏi thăm hồ thị thế tần giờ đâu?
em tròn hột mít nâu nâu
môi hồng nhỏ
mắt bồ câu
lúng liềng
má em chúm chím đồng tiền
tóc em xõa chấm vai mềm
áo thơm
qua chùa tỉnh hội đường trơn
mấy lần trễ học
mấy hôm đứng ngoài
nhìn vào lớp
em cười tươi
tôi quên thầy giảng
cùng cười với em
rồi em bỏ lớp tìm duyên
bỏ ai hè đỏ đèn đêm Nguyễn Hoàng
những mùa thi
những mùa thi
lăn tròn
lăn mòn hết tóc
vẫn còn nhớ em


07.7. 2008 TRANG THƠ BÈ BẠN

Nguyễn Khắc Phước

Quê Lương Điền, Hải Sơn, Hải Lăng. Hiện anh là nhà giáo ở thành phố Đà Nẵng. Đam mê thơ văn từ nhỏ, thơ anh chất chứa nổi niềm yêu thương nhân thế.Anh không chỉ dạy giỏi Tiếng Anh mà còn giỏi Tiếng Em.Sau chuyến về quê vừa rồi, chúc anh sự nghiệp thơ văn tiếp tục trào ra ngọn bút!

MẮT BỒ CÂU

Về qua chợ Sãi tần ngần
hỏi thăm hồ thị thế tần giờ đâu?
em tròn hột mít nâu nâu
môi hồng nhỏ
mắt bồ câu
lúng liềng
má em chúm chím đồng tiền
tóc em xõa chấm vai mềm
áo thơm
qua chùa tỉnh hội đường trơn
mấy lần trễ học
mấy hôm đứng ngoài
nhìn vào lớp
em cười tươi
tôi quên thầy giảng
cùng cười với em
rồi em bỏ lớp tìm duyên
bỏ ai hè đỏ đèn đêm Nguyễn Hoàng
những mùa thi
những mùa thi
lăn tròn
lăn mòn hết tóc
vẫn còn nhớ em