Hiển thị các bài đăng có nhãn ghichép. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ghichép. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2009

24.4. 2009 VÀI KÝ ỨC VỀ GIÁO SƯ LÊ VĂN QUÝT



VÀI KÝ ỨC VỀ GIÁO SƯ LÊ VĂN QUÝT

Đầu năm 70 thế kỷ trước, giã từ làng quê Thi Ông, Hải Vĩnh, tôi ra học lớp 10C trường Nguyễn Hoàng (Sinh ngữ 1: Anh văn; sinh ngữ 2: Pháp văn )- cô Võ Thị Hồng làm chủ nhiệm. Nhiều thầy cô ở đây được đào tạo trường lớp chính quy nên dạy có chất lượng và bài bản. Tôi đã lĩnh hội rất nhiều về kiến thức cũng như phong cách. Chính vì thế mà sau này cầm xong mảnh bằng Tú tài tôi và một số bạn thi vào sư phạm- theo chân các cô thầy và ước mơ đã toại nguyện.

Như bao giáo sư khác, thầy Lê Văn Quýt dạy Pháp văn đã nâng cánh hồn thơ cho chúng tôi. Sau này , tôi trở thành Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật, trong đó có một phần công lao của thầy. Bốn kỷ năng học ngoại ngữ là nghe, đọc, nói, viết. Thầy dạy chúng tôi rất hay, chẳng hạn khi đến các bài thơ ngụ ngôn của La Fontain và các tác giả khác, thầy yêu cầu chúng tôi dịch ra tiếng Việt đã đành, ai dịch bằng thơ nếu hay thì được biểu dương. Vốn được học Nghệ thuật làm thơ từ trước, từ cách gieo vần: Vần liên tiếp, vần gián cách, thơ tự do…nên tôi hăng hái tỏ bày bài dịch của mình. Cho đến bây giờ vì được khen nên nhớ lâu !

Sau này trong những cuộc trà dư tửu hậu, tôi thường hay dí dỏm nói lái tạo những tiếng cười vui.

Tôi nói mình là môn đệ của thầy Quýt ngày xưa !

Ngày ấy khi dạy chúng tôi về từ ngữ, thầy tâm niệm làm sao cho học trò của mình nhớ lâu- tôi nghĩ vậy. Ví dụ dạy từ “bu-ri” – tôi phiên âm- nghĩa là Con vít , nói lái lại “Bi-ru” (Con rắn). Dạy như thế mần răng không đi suốt đời người ! (Gần bốn thập kỷ rồi đó)

Cảm ơn thầy đã dạy cho chúng em trưởng thành. Kể vài ký ức về thầy cũng để chia sẻ cho con cháu, cho đồng nghiệp của em hiện nay biết rõ hơn về Thầy.

Kính chúc Thầy cùng gia đình sức khỏe, hạnh phúc trên đất La-gi, Bình Thuận!

VÕ VĂN HOA



24.4. 2009 VÀI KÝ ỨC VỀ GIÁO SƯ LÊ VĂN QUÝT



VÀI KÝ ỨC VỀ GIÁO SƯ LÊ VĂN QUÝT

Đầu năm 70 thế kỷ trước, giã từ làng quê Thi Ông, Hải Vĩnh, tôi ra học lớp 10C trường Nguyễn Hoàng (Sinh ngữ 1: Anh văn; sinh ngữ 2: Pháp văn )- cô Võ Thị Hồng làm chủ nhiệm. Nhiều thầy cô ở đây được đào tạo trường lớp chính quy nên dạy có chất lượng và bài bản. Tôi đã lĩnh hội rất nhiều về kiến thức cũng như phong cách. Chính vì thế mà sau này cầm xong mảnh bằng Tú tài tôi và một số bạn thi vào sư phạm- theo chân các cô thầy và ước mơ đã toại nguyện.

Như bao giáo sư khác, thầy Lê Văn Quýt dạy Pháp văn đã nâng cánh hồn thơ cho chúng tôi. Sau này , tôi trở thành Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật, trong đó có một phần công lao của thầy. Bốn kỷ năng học ngoại ngữ là nghe, đọc, nói, viết. Thầy dạy chúng tôi rất hay, chẳng hạn khi đến các bài thơ ngụ ngôn của La Fontain và các tác giả khác, thầy yêu cầu chúng tôi dịch ra tiếng Việt đã đành, ai dịch bằng thơ nếu hay thì được biểu dương. Vốn được học Nghệ thuật làm thơ từ trước, từ cách gieo vần: Vần liên tiếp, vần gián cách, thơ tự do…nên tôi hăng hái tỏ bày bài dịch của mình. Cho đến bây giờ vì được khen nên nhớ lâu !

Sau này trong những cuộc trà dư tửu hậu, tôi thường hay dí dỏm nói lái tạo những tiếng cười vui.

Tôi nói mình là môn đệ của thầy Quýt ngày xưa !

Ngày ấy khi dạy chúng tôi về từ ngữ, thầy tâm niệm làm sao cho học trò của mình nhớ lâu- tôi nghĩ vậy. Ví dụ dạy từ “bu-ri” – tôi phiên âm- nghĩa là Con vít , nói lái lại “Bi-ru” (Con rắn). Dạy như thế mần răng không đi suốt đời người ! (Gần bốn thập kỷ rồi đó)

Cảm ơn thầy đã dạy cho chúng em trưởng thành. Kể vài ký ức về thầy cũng để chia sẻ cho con cháu, cho đồng nghiệp của em hiện nay biết rõ hơn về Thầy.

Kính chúc Thầy cùng gia đình sức khỏe, hạnh phúc trên đất La-gi, Bình Thuận!

VÕ VĂN HOA



Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2008

18.8. 2008

HỒ DĨA NGHIÊN

Ở Hà Nội có tháp Bút “viết thơ lên trời xanh”, ở Lệ Thủy, ngã ba sông Kiến Giang có Mũi Viết, nơi tụ hội những văn nhân thi sĩ của non nước Quảng Bình. Ở Thi Ông ( Hải Vĩnh, Hải Lăng) quê tôi, từ xa xưa đã có Hồ Dĩa Nghiên, nay vẫn còn. Địa điểm từ trường THCS Hải Vĩnh đi về phía Tây Nam khoảng gần 1km, nằm cạnh đường cấp phối, sát kênh N2 Nam Thạch Hãn bây giờ.

Theo những người cao tuổi trong làng kể lại thì ngày xưa làng đã có một truyền thống văn hóa, coi trọng văn hóa. Ngoài các di tích cổ xưa còn lại như Ba Miếu, Miếu Bổn Thổ Thành Hoàng, Đình Làng..., làng đã dựa vào thế phong thủy, đào một hồ rộng khoảng ba sào trung bộ, giữa lòng hồ có gò đất hình tượng nghiên bút, nước xung quanh là mực với hàm ý là Đất này là đất văn hóa, con cháu sẽ phát nghiệp văn hóa.

Hồ đã có hàng trăm nămvà đã đi vào “tâm thức” mỗi người. Lớp chúng tôi lớn lên sau này, khi “khảo sử” cũng như khi lật lại thời quá vãng, tự hào là làng có nhiều vị nho sĩ uyên thân, có tài thơ phú đối đáp. Một số người đã sử dụng tài năng của mình phục vụ đất nước.

Phải chăng Thi Ông - thuở lập làng trong đợt nam tiến lần thứ 2 (theo linh mục Nguyễn Văn Ngọc công bố về những làng cổ ở Quảng Trị) đã có cùng với Hồ Dĩa Nghiên và từ đó đến nay “ Làng thơ” không ngừng cất cánh.

Dân làng Thi Ông đã, đang và sẽ coi “Hồ Dĩa Nghiên” như là một “tài sản văn hóa” cổ xưa còn lại của mình!

18.8. 2008

HỒ DĨA NGHIÊN

Ở Hà Nội có tháp Bút “viết thơ lên trời xanh”, ở Lệ Thủy, ngã ba sông Kiến Giang có Mũi Viết, nơi tụ hội những văn nhân thi sĩ của non nước Quảng Bình. Ở Thi Ông ( Hải Vĩnh, Hải Lăng) quê tôi, từ xa xưa đã có Hồ Dĩa Nghiên, nay vẫn còn. Địa điểm từ trường THCS Hải Vĩnh đi về phía Tây Nam khoảng gần 1km, nằm cạnh đường cấp phối, sát kênh N2 Nam Thạch Hãn bây giờ.

Theo những người cao tuổi trong làng kể lại thì ngày xưa làng đã có một truyền thống văn hóa, coi trọng văn hóa. Ngoài các di tích cổ xưa còn lại như Ba Miếu, Miếu Bổn Thổ Thành Hoàng, Đình Làng..., làng đã dựa vào thế phong thủy, đào một hồ rộng khoảng ba sào trung bộ, giữa lòng hồ có gò đất hình tượng nghiên bút, nước xung quanh là mực với hàm ý là Đất này là đất văn hóa, con cháu sẽ phát nghiệp văn hóa.

Hồ đã có hàng trăm nămvà đã đi vào “tâm thức” mỗi người. Lớp chúng tôi lớn lên sau này, khi “khảo sử” cũng như khi lật lại thời quá vãng, tự hào là làng có nhiều vị nho sĩ uyên thân, có tài thơ phú đối đáp. Một số người đã sử dụng tài năng của mình phục vụ đất nước.

Phải chăng Thi Ông - thuở lập làng trong đợt nam tiến lần thứ 2 (theo linh mục Nguyễn Văn Ngọc công bố về những làng cổ ở Quảng Trị) đã có cùng với Hồ Dĩa Nghiên và từ đó đến nay “ Làng thơ” không ngừng cất cánh.

Dân làng Thi Ông đã, đang và sẽ coi “Hồ Dĩa Nghiên” như là một “tài sản văn hóa” cổ xưa còn lại của mình!

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2008

29.7. 2008

KỶ NIỆM VỀ

MỘT CÂU ĐỐI NGÀY XUÂN



Tôi còn nhớ như in đêm giao thừa năm ấy- giao thừa tết Quí mùi ( năm 2003), đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp không khí vui tết đón xuân khắp ba miền. Đây là một sinh hoạt văn hoá tinh thần thực sự có ý nghĩa. Những người trong nước, kiều bào ở nước ngoài chắc chắn ai cũng “dán mắt” với cầu truyền hình để thấy ấm lòng hơn bên vị mứt gừng cay, bên “ thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ ...”

Đúng 20 giờ kém 15 phút, có một “sân chơi” chúng tôi không ngờ tới. Đó là giáo sư Vũ Khiêu ra câu đối trên truyền hình.

“ Trung với nước, hiếu với dân, đưa đất nước trên đường giàu mạnh”

“Xuất đối dị, đối đối nan”.. ( Ra câu đối dễ, đối lại khó) thế nhưng chưa đầy 5 tiếng đồng hồ sau, khi tổng kết, công bố kết quả đã có gần 10 ngàn người trong cả nước gửi về, vượt ngoài dự kiến của người ra đề và ban giám khảo phải làm việc cật lực.

Tôi và Thạc sĩ Võ Văn Luyến, hai anh em ruột cùng cha sinh mẹ đẻ, cùng ấm lạnh theo dòng đời, cùng ở gần nhau, cùng đam mê nghiệp chướng đã hội ý nhau: đối lại sau 15 phút.

“ Tốt việc đời, đẹp việc đạo, dựng xây đời khởi sắc văn minh”

Và điện thoại ra Hà Nội, lúc này Đài THVN nghẽn mạch, chúng tôi phải bấm-tắt-bấm nốt Redial chen từng giây mới chuyển tải được nội dung. Đầu dây bên kia, người tiếp nhận được vế đối yêu cầu chúng tôi đọc chậm từng chữ, cho biết địa chỉ và thông báo chờ xem kết quả vào trước lúc kết thúc cầu truyền hình.

Hồi hộp, chờ đợi. Cả hai anh em chúng tôi đều thấp thỏm và vẫn có chút le lói hy vọng.

Giờ G đã đến, giáo sư Vũ Khiêu tổng kết cuộc thi và công bố 1 giải nhất và 4 giải nhì. Giải nhất thuộc về đồng chí nào đó ở Thành phố Hải Phòng, tôi không nhớ tên. Đến lượt anh em chúng tôi, giáo sư nhận xét: “Đây là một trong những vế đối hay, chuẩn về từ loại, nội dung phù hợp với Nghị quyết VII về đại đoàn kết toàn dân tộc và tôn giáo... xứng đáng đạt giải nhì”.

Lúc này, hai gia đình chúng tôi (nhà kề nhau, không có đường phân vạch) đã cùng vui tết chung. Còn bạn bè chúng tôi liên tục, liên tục điện thoại về, lúc này ngược lại nhà tôi lại “nghẽn mạch” điện thoại. Một số anh em thân tình, gần gũi đến xông đất và chia sẻ nóng niềm vui này. Hai cô con gái chúng tôi ( sinh viên về nghỉ tết) nói to lên : “Chưa bao giờ nhà mình và nhà chú vui hết mức như thế này!”.

Đêm ấy, chúng tôi không ngủ, cả 2 nhà chúng tôi không ngủ! Chai rượu chát Pháp đã bật ra. Thi sĩ Võ Văn Luyến cùng người bạn đời, cùng “nhà tôi” nâng ly tiếp khách. Tôi cứ chạy ra chạy vào nghe điện thoại chúc mừng.

Có thể nói Hạnh phúc lúc giao thừa đã đến với chúng tôi, chắc chắn khó mà “trùng lai”!

29.7. 2008

KỶ NIỆM VỀ

MỘT CÂU ĐỐI NGÀY XUÂN



Tôi còn nhớ như in đêm giao thừa năm ấy- giao thừa tết Quí mùi ( năm 2003), đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp không khí vui tết đón xuân khắp ba miền. Đây là một sinh hoạt văn hoá tinh thần thực sự có ý nghĩa. Những người trong nước, kiều bào ở nước ngoài chắc chắn ai cũng “dán mắt” với cầu truyền hình để thấy ấm lòng hơn bên vị mứt gừng cay, bên “ thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ ...”

Đúng 20 giờ kém 15 phút, có một “sân chơi” chúng tôi không ngờ tới. Đó là giáo sư Vũ Khiêu ra câu đối trên truyền hình.

“ Trung với nước, hiếu với dân, đưa đất nước trên đường giàu mạnh”

“Xuất đối dị, đối đối nan”.. ( Ra câu đối dễ, đối lại khó) thế nhưng chưa đầy 5 tiếng đồng hồ sau, khi tổng kết, công bố kết quả đã có gần 10 ngàn người trong cả nước gửi về, vượt ngoài dự kiến của người ra đề và ban giám khảo phải làm việc cật lực.

Tôi và Thạc sĩ Võ Văn Luyến, hai anh em ruột cùng cha sinh mẹ đẻ, cùng ấm lạnh theo dòng đời, cùng ở gần nhau, cùng đam mê nghiệp chướng đã hội ý nhau: đối lại sau 15 phút.

“ Tốt việc đời, đẹp việc đạo, dựng xây đời khởi sắc văn minh”

Và điện thoại ra Hà Nội, lúc này Đài THVN nghẽn mạch, chúng tôi phải bấm-tắt-bấm nốt Redial chen từng giây mới chuyển tải được nội dung. Đầu dây bên kia, người tiếp nhận được vế đối yêu cầu chúng tôi đọc chậm từng chữ, cho biết địa chỉ và thông báo chờ xem kết quả vào trước lúc kết thúc cầu truyền hình.

Hồi hộp, chờ đợi. Cả hai anh em chúng tôi đều thấp thỏm và vẫn có chút le lói hy vọng.

Giờ G đã đến, giáo sư Vũ Khiêu tổng kết cuộc thi và công bố 1 giải nhất và 4 giải nhì. Giải nhất thuộc về đồng chí nào đó ở Thành phố Hải Phòng, tôi không nhớ tên. Đến lượt anh em chúng tôi, giáo sư nhận xét: “Đây là một trong những vế đối hay, chuẩn về từ loại, nội dung phù hợp với Nghị quyết VII về đại đoàn kết toàn dân tộc và tôn giáo... xứng đáng đạt giải nhì”.

Lúc này, hai gia đình chúng tôi (nhà kề nhau, không có đường phân vạch) đã cùng vui tết chung. Còn bạn bè chúng tôi liên tục, liên tục điện thoại về, lúc này ngược lại nhà tôi lại “nghẽn mạch” điện thoại. Một số anh em thân tình, gần gũi đến xông đất và chia sẻ nóng niềm vui này. Hai cô con gái chúng tôi ( sinh viên về nghỉ tết) nói to lên : “Chưa bao giờ nhà mình và nhà chú vui hết mức như thế này!”.

Đêm ấy, chúng tôi không ngủ, cả 2 nhà chúng tôi không ngủ! Chai rượu chát Pháp đã bật ra. Thi sĩ Võ Văn Luyến cùng người bạn đời, cùng “nhà tôi” nâng ly tiếp khách. Tôi cứ chạy ra chạy vào nghe điện thoại chúc mừng.

Có thể nói Hạnh phúc lúc giao thừa đã đến với chúng tôi, chắc chắn khó mà “trùng lai”!

28.07.2008 Bông hoa đẹp nơi miền cát trắng

...::Một sự trùng phùng ngẫu nhiên, sáng nay vào lúc 4 h, tôi vốn dĩ như bao người khác"trí thức" không phải "trí ngủ" sau khi lướt web tiếp tục chuyển tải bài "NHƯ LÀ CHUYỆN CỔ TÍCH". Nhân vật trung tâm trong GHI CHÉP này là cậu bé 30 năm về trước TRẦN VĂN GIẢI PHÓNG không ai khác hơn chính là chú ruột của cháu TRẦN THỊ HỒNG NGÂN mà tôi vừa đề cập , được baoquangtri. online đăng tải hôm nay!

http://baoquangtri.vn/Portals/_default/Skins/skinbaoqt/bnbaoquangtri.jpg
..::Trang nhất » Hoa giữa đời thường » Chi tiết ::..

Bông hoa đẹp nơi miền cát trắng

Quê Ngân bên dòng Ô Lâu thơ mộng. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình hiếu học: Cha tốt nghiệp Đại học Sư phạm Toán, là Phó hiệu trưởng Trường THCS Hải Hòa, mẹ tốt nghiệp ĐHSP Văn, chú ruột là nghiên cứu sinh chuẩn bị bảo vệ luận án Tiến sĩ ở Nhật.
Sau khi cha mất, Trần Thị Hồng Ngân đến học ở Trường THCS thị trấn Hải Lăng. Cô bé lớp 7 này đã kế thừa và phát huy truyền thống rạng rỡ của gia đình, không ngừng vươn lên chăm ngoan, học giỏi. Ở bậc tiểu học, em là học sinh giỏi toàn diện. Lớp 3, lớp 5 em đều đoạt giải nhất hội thi "Nói hay, viết đẹp" cấp huyện, đặc biệt em tiếp tục đoạt giải nhất bộ môn Tiếng Việt cấp tỉnh.
Hồn nhiên, dễ thương, ăn nói trôi chảy lưu loát, năng động là tố chất thường trực trong em. Các thầy cô giáo chủ nhiệm đều khen em chăm phát biểu đã đúng lại hay, có sáng tạo. Nhà ở khóm 3, thị trấn Hải Lăng, mẹ đi dạy, Hồng Ngân biết sắp xếp việc học hợp lý, giúp mẹ và hướng dẫn em học ở nhà. Chính vì thế mà hai chị em đều học giỏi.


Lên THCS, em tiếp tục giữ vững và phát triển vị thế của mình. Lớp 6, lớp 7 em là học sinh giỏi toàn diện. Mới đây, tham gia hội thi "Chúng em kể chuyện Bác Hồ" và Liên hoan văn nghệ "Bài ca dâng Bác", em đoạt cùng lúc 2 giải nhất, được Hội đồng Đội tỉnh Quảng Trị tặng Bằng khen. Ghi nhận thành tích của em, Hội đồng Đội tỉnh cũng đã tặng cho em danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ" 3 năm 2003- 2006.
Gặp em, khi hỏi về ước mơ tương lai, Hồng Ngân trả lời: "Em cố gắng học tốt để sau này trở thành nhà báo, nhà báo giúp ích cho đời và không phải dễ để trở thành phóng viên phải không thầy?"
Chia tay em, một bông hoa đẹp nơi miền cát trắng Hải Lăng, tôi chúc em đạt thành mơ ước và tương lai phía trước đang đón chờ em.

Võ Văn Hoa

..::Bài và ảnh: www.baoquangtri.vn





28.07.2008 Bông hoa đẹp nơi miền cát trắng

...::Một sự trùng phùng ngẫu nhiên, sáng nay vào lúc 4 h, tôi vốn dĩ như bao người khác"trí thức" không phải "trí ngủ" sau khi lướt web tiếp tục chuyển tải bài "NHƯ LÀ CHUYỆN CỔ TÍCH". Nhân vật trung tâm trong GHI CHÉP này là cậu bé 30 năm về trước TRẦN VĂN GIẢI PHÓNG không ai khác hơn chính là chú ruột của cháu TRẦN THỊ HỒNG NGÂN mà tôi vừa đề cập , được baoquangtri. online đăng tải hôm nay!

http://baoquangtri.vn/Portals/_default/Skins/skinbaoqt/bnbaoquangtri.jpg
..::Trang nhất » Hoa giữa đời thường » Chi tiết ::..

Bông hoa đẹp nơi miền cát trắng

Quê Ngân bên dòng Ô Lâu thơ mộng. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình hiếu học: Cha tốt nghiệp Đại học Sư phạm Toán, là Phó hiệu trưởng Trường THCS Hải Hòa, mẹ tốt nghiệp ĐHSP Văn, chú ruột là nghiên cứu sinh chuẩn bị bảo vệ luận án Tiến sĩ ở Nhật.
Sau khi cha mất, Trần Thị Hồng Ngân đến học ở Trường THCS thị trấn Hải Lăng. Cô bé lớp 7 này đã kế thừa và phát huy truyền thống rạng rỡ của gia đình, không ngừng vươn lên chăm ngoan, học giỏi. Ở bậc tiểu học, em là học sinh giỏi toàn diện. Lớp 3, lớp 5 em đều đoạt giải nhất hội thi "Nói hay, viết đẹp" cấp huyện, đặc biệt em tiếp tục đoạt giải nhất bộ môn Tiếng Việt cấp tỉnh.
Hồn nhiên, dễ thương, ăn nói trôi chảy lưu loát, năng động là tố chất thường trực trong em. Các thầy cô giáo chủ nhiệm đều khen em chăm phát biểu đã đúng lại hay, có sáng tạo. Nhà ở khóm 3, thị trấn Hải Lăng, mẹ đi dạy, Hồng Ngân biết sắp xếp việc học hợp lý, giúp mẹ và hướng dẫn em học ở nhà. Chính vì thế mà hai chị em đều học giỏi.


Lên THCS, em tiếp tục giữ vững và phát triển vị thế của mình. Lớp 6, lớp 7 em là học sinh giỏi toàn diện. Mới đây, tham gia hội thi "Chúng em kể chuyện Bác Hồ" và Liên hoan văn nghệ "Bài ca dâng Bác", em đoạt cùng lúc 2 giải nhất, được Hội đồng Đội tỉnh Quảng Trị tặng Bằng khen. Ghi nhận thành tích của em, Hội đồng Đội tỉnh cũng đã tặng cho em danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ" 3 năm 2003- 2006.
Gặp em, khi hỏi về ước mơ tương lai, Hồng Ngân trả lời: "Em cố gắng học tốt để sau này trở thành nhà báo, nhà báo giúp ích cho đời và không phải dễ để trở thành phóng viên phải không thầy?"
Chia tay em, một bông hoa đẹp nơi miền cát trắng Hải Lăng, tôi chúc em đạt thành mơ ước và tương lai phía trước đang đón chờ em.

Võ Văn Hoa

..::Bài và ảnh: www.baoquangtri.vn





Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2008

28.7. 2008

NHƯ LÀ CHUYỆN CỔ TÍCH

1/ Thấm thoát đã 30 năm. Cậu bé Trần Văn Giải Phóng, quê ở xã Hải Hoà, Hải Lăng với cái tên cha sinh mẹ đẻ đã lớn lên cường tráng cùng với quê hương. Khi viết những dòng này, bất giác tôi nhớ về em. Có ai hay biết rằng, từ cái miền đồng sâu chiêm khê mùa thối ấy, em đã đi lên muôn nổi khó nhọc. Tôi được biết nhiều em quê ở đây từ 4 giờ sáng đã lặn lội gò lưng trên những chiếc xe đạp cà tàng, băng qua những đường làng nhảo bùn để đến trường PTTH Hải Lăng, với chiều dài trên 25 cây số để kịp đến giờ học.

Giải Phóng, em bắt đầu điểm xuất phát như vậy, để rồi bằng ý chí vượt khó hiếu học, năm học 1993-1994 cùng một lúc đạt hai giải toán và hoá lớp 12 trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, sau đó em đỗ luôn vào 3 trường Đại học, cuối cùng em chọn trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh. Tốt nghiệp, Giải Phóng về nhận công tác giảng dạy tại trường Đại học Khoa học Huế và được trường cử đi du học ở Nhật chuẩn bị bảo vệ Luận án Tiến sĩ sắp tới.

Thế đấy, là một chuyện bình thường nhưng tôi cứ ngỡ như là nhân vật từ trong chuyện cổ tích viết ra.

2/ Năm ấy, sau ngày giải phóng, chúng tôi về dạy học ở Hải Khê, lội bộ qua những tràng cát đến nao lòng. “ Bãi cát dài, bãi cát dài biết tính sao đây”. Đường thì mờ mịt..., câu thơ của Cao Chu Thần thế kỷ 19 vẫn còn nguyên ý nghĩa. Tôi lại nhớ Lỗ Tấn có nói đại ý rằng trên mặt đất này không có con đường mòn nào cả, người ta dẫm mãi thành đường. Và chúng tôi cứ thế hướng về trường nơi có cây dương cao vút là tiêu điểm để thẳng tiến. Gian nan vất vả trăm bề. Khổ nhất là hàng tháng anh em thay nhau lên cửa hàng lương thực Hội Yên gùi gạo. Lại nữa trường học là tranh tre, nứa lá sơ sài, bàn ghế được kê lên trên cát. Chiến tranh đã tàn phá Quảng Trị nói chung, Hải Lăng nói riêng, ở đâu ở đâu cũng thành vàng đai trắng ! Bà con khắp nơi sơ tán về, gia tài gom lại chỉ còn là đôi gánh trên vai.

Để rồi 30 năm sau từ mảnh đất đau thương nhưng anh dũng kiên cường này nơi chị Trần Thị Tâm đã từng “ ăn xương rồng thay cơm, da con gái xanh dần” nay đã đổi thay với tốc độ chóng mặt những con đường đất đỏ biên hoà đã được nối từ Hải Dương đến Hải Khê; thảm nhựa từ Hải Khê đến Hải An như những cánh tay lực lưỡng vươn ra và song hành với biển. Các mẹ, các chị ở đây không còn cái cảnh “ chạy cá” chiều hay nửa đêm như trước. Các cô giáo không còn thở dốc “ Mạ ơi !” như xưa. Có đường là có tất cả. Còn trường học thì hết chỗ nói. Trường Hải Khê khang trang đẹp đẽ, tường tô đá rửa; Trường TH Hải An, Hải Khê, trường THCS An Khê đã lên tầng cao, Hải Lăng bây giờ là thế. Các trường vùng đồng bằng thì có nhiều bước tiến. Trường PTTH Hải Lăng, Nam Hải Lăng, THCS Hội Yên, THCS Hải Dương, THCS Thị trấn, THCS Hải Thiện ...đã đang tiếp tục vươn cao. Số lượng trường, lớp, học sinh ngày một nhiều hơn, chất lượng đại trà cũng như mũi nhọn ngày một cao hơn. Trường học không chỉ thay đổi cảnh quan bên ngoài mà bên trong lớp học đã được xanh hoá. 30 năm ...30 năm ngỡ như là chuyện cổ tích.

3/ Thị trấn Hải Lăng khiêm nhường nằm trên chặng đường của con đường Quảng Trị-Huế, nơi mà ngày trước Pháp gọi là “con đường không vui”, trong mùa hè đỏ lửa 1972 đoạn đường từ Bến Đá đến Ngã ba Long Hưng với têngoij mới: “Đại lộ kinh hoàng”. Ngược dòng thời gian hơn chút nữa thì đây xưa là vùng rừng núi:

Hoang dã một thời lau lách

Người về Thượng Đạo xa xôi

Bên khe Nước chè róc rách

Tôi ngồi tôi nghĩ thằng tôi ...

( Bên khe Nước Chè)

Thế mà sau 30 năm quê hương giải phóng, 15 năm lập lại huyện nhà, từ mảnh đất “gió Lào cát trắng” này đã mọc lên những “cao ốc”. Bộ máy của Huyện đều tập trung quanh đây. Lịch sử huyện nhà đã sang trang mới. Mười lăm năm bấy nhiêu ngày. Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều.

Vâng, cuộc sống đang ấm dần lên. Làng quê đang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điện đã thắp sáng hầu hết các vùng dân cư xa xôi hẻo lánh. Những con đường bê tông hoá từ đầu làng đến cuối thôn xóm. Anh bạn tôi từ Bình Dương, sau nhiều năm xa quê trở về thảng thốt ngạc nhiên: “Tôi không ngờ!”, Tôi không ngờ! Ngày ấy mình ra đi để vật lộn với cuộc sống thì quê mình chẳng có gì đâu, nếu không nói là còn lại bùng nhùng dây thép gai và bom đạn. Để bây giờ ... phải chăng như thế là chuyện cổ tích, phải không!”.

Võ Văn Hoa


28.7. 2008

NHƯ LÀ CHUYỆN CỔ TÍCH

1/ Thấm thoát đã 30 năm. Cậu bé Trần Văn Giải Phóng, quê ở xã Hải Hoà, Hải Lăng với cái tên cha sinh mẹ đẻ đã lớn lên cường tráng cùng với quê hương. Khi viết những dòng này, bất giác tôi nhớ về em. Có ai hay biết rằng, từ cái miền đồng sâu chiêm khê mùa thối ấy, em đã đi lên muôn nổi khó nhọc. Tôi được biết nhiều em quê ở đây từ 4 giờ sáng đã lặn lội gò lưng trên những chiếc xe đạp cà tàng, băng qua những đường làng nhảo bùn để đến trường PTTH Hải Lăng, với chiều dài trên 25 cây số để kịp đến giờ học.

Giải Phóng, em bắt đầu điểm xuất phát như vậy, để rồi bằng ý chí vượt khó hiếu học, năm học 1993-1994 cùng một lúc đạt hai giải toán và hoá lớp 12 trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, sau đó em đỗ luôn vào 3 trường Đại học, cuối cùng em chọn trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh. Tốt nghiệp, Giải Phóng về nhận công tác giảng dạy tại trường Đại học Khoa học Huế và được trường cử đi du học ở Nhật chuẩn bị bảo vệ Luận án Tiến sĩ sắp tới.

Thế đấy, là một chuyện bình thường nhưng tôi cứ ngỡ như là nhân vật từ trong chuyện cổ tích viết ra.

2/ Năm ấy, sau ngày giải phóng, chúng tôi về dạy học ở Hải Khê, lội bộ qua những tràng cát đến nao lòng. “ Bãi cát dài, bãi cát dài biết tính sao đây”. Đường thì mờ mịt..., câu thơ của Cao Chu Thần thế kỷ 19 vẫn còn nguyên ý nghĩa. Tôi lại nhớ Lỗ Tấn có nói đại ý rằng trên mặt đất này không có con đường mòn nào cả, người ta dẫm mãi thành đường. Và chúng tôi cứ thế hướng về trường nơi có cây dương cao vút là tiêu điểm để thẳng tiến. Gian nan vất vả trăm bề. Khổ nhất là hàng tháng anh em thay nhau lên cửa hàng lương thực Hội Yên gùi gạo. Lại nữa trường học là tranh tre, nứa lá sơ sài, bàn ghế được kê lên trên cát. Chiến tranh đã tàn phá Quảng Trị nói chung, Hải Lăng nói riêng, ở đâu ở đâu cũng thành vàng đai trắng ! Bà con khắp nơi sơ tán về, gia tài gom lại chỉ còn là đôi gánh trên vai.

Để rồi 30 năm sau từ mảnh đất đau thương nhưng anh dũng kiên cường này nơi chị Trần Thị Tâm đã từng “ ăn xương rồng thay cơm, da con gái xanh dần” nay đã đổi thay với tốc độ chóng mặt những con đường đất đỏ biên hoà đã được nối từ Hải Dương đến Hải Khê; thảm nhựa từ Hải Khê đến Hải An như những cánh tay lực lưỡng vươn ra và song hành với biển. Các mẹ, các chị ở đây không còn cái cảnh “ chạy cá” chiều hay nửa đêm như trước. Các cô giáo không còn thở dốc “ Mạ ơi !” như xưa. Có đường là có tất cả. Còn trường học thì hết chỗ nói. Trường Hải Khê khang trang đẹp đẽ, tường tô đá rửa; Trường TH Hải An, Hải Khê, trường THCS An Khê đã lên tầng cao, Hải Lăng bây giờ là thế. Các trường vùng đồng bằng thì có nhiều bước tiến. Trường PTTH Hải Lăng, Nam Hải Lăng, THCS Hội Yên, THCS Hải Dương, THCS Thị trấn, THCS Hải Thiện ...đã đang tiếp tục vươn cao. Số lượng trường, lớp, học sinh ngày một nhiều hơn, chất lượng đại trà cũng như mũi nhọn ngày một cao hơn. Trường học không chỉ thay đổi cảnh quan bên ngoài mà bên trong lớp học đã được xanh hoá. 30 năm ...30 năm ngỡ như là chuyện cổ tích.

3/ Thị trấn Hải Lăng khiêm nhường nằm trên chặng đường của con đường Quảng Trị-Huế, nơi mà ngày trước Pháp gọi là “con đường không vui”, trong mùa hè đỏ lửa 1972 đoạn đường từ Bến Đá đến Ngã ba Long Hưng với têngoij mới: “Đại lộ kinh hoàng”. Ngược dòng thời gian hơn chút nữa thì đây xưa là vùng rừng núi:

Hoang dã một thời lau lách

Người về Thượng Đạo xa xôi

Bên khe Nước chè róc rách

Tôi ngồi tôi nghĩ thằng tôi ...

( Bên khe Nước Chè)

Thế mà sau 30 năm quê hương giải phóng, 15 năm lập lại huyện nhà, từ mảnh đất “gió Lào cát trắng” này đã mọc lên những “cao ốc”. Bộ máy của Huyện đều tập trung quanh đây. Lịch sử huyện nhà đã sang trang mới. Mười lăm năm bấy nhiêu ngày. Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều.

Vâng, cuộc sống đang ấm dần lên. Làng quê đang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điện đã thắp sáng hầu hết các vùng dân cư xa xôi hẻo lánh. Những con đường bê tông hoá từ đầu làng đến cuối thôn xóm. Anh bạn tôi từ Bình Dương, sau nhiều năm xa quê trở về thảng thốt ngạc nhiên: “Tôi không ngờ!”, Tôi không ngờ! Ngày ấy mình ra đi để vật lộn với cuộc sống thì quê mình chẳng có gì đâu, nếu không nói là còn lại bùng nhùng dây thép gai và bom đạn. Để bây giờ ... phải chăng như thế là chuyện cổ tích, phải không!”.

Võ Văn Hoa


Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2008

27.7.2008

QUA ĐẠO ĐẦU

NHỚ THẦY PHAN PHỤNG THẠCH

Những năm đầu thập niên 70 thế kỷ trước, tôi ra học đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng. Mới đó mà đã 38 năm. 38năm chưa phải là dài nhưng với tôi đã có những kỷ niệm sâu sắc về mái trường, thầy cô, bạn bè. Là dân ban C (ban văn chương) nên tôi thường đến thư viện nhà trường. Người thầy "Quản thư" không dạy tôi một giờ nào nhưng tôi rất "tâm phục khẩu phục" đó là nhà giáo - nhà thơ Phan Phụng Thạch, người mà tôi thường gặp tác giả trên những tạp chí bách khoa: văn, những tờ báo "Vang bóng một thời".

Một ông thầy dong dỏng cao thường đeo kính trắng, ít nói, nhưng đọc thơ thầy mới hay cái tâm của người luôn hướng về quê hương, bạn bè đặc biệt là học trò của mình. Tập thơ " Lưu bút mùa hạ" của thầy là một minh chứng:

" Rồi chiều nay giã từ từng nỗi chết

Ta trở về đứng giữa những tang thương

Quê hương đó những chiếc cầu đã gãy

Còn mong chi nối lại những con đường.

Còn ai đó những người thân yêu cũ

Thắp giùm ta một chút nắng trong hồn

Em còn không hay muôn đời đã ngủ

Ôi một thời hoa bướm Hạnh Hoa thôn..."

( Khi ta về Quảng Trị)

Quê thầy ở thôn Đạo Đầu xã Triệu Trung một làng quê có truyền thống văn hóa. Giáo sư Phan Văn Dật - tác giả "Bâng khuâng" (thơ tiền chiến) trong "Thi nhân Việt Nam" (Hoài Thân - Hoài Chân) có đề cập cũng là người cùng làng. Nhiều lần qua Đạo Đầu, hình ảnh thi sĩ họ Phan này cứ ám ảnh trong tôi hoài! Phải chăng có cùng mẫu số chung về duyên nợ thi ca?

Sau này vào Huế học sư phạm thì bàng hoàng nghe tin "Thầy Thạch đã mất vì mắc phải căn bệnh quái ác: "Bệnh hoại huyết". Tôi nhớ không nhầm, trên tạp chí Bách khoa, nhà thơ Chu Vương Miện đã có số tưởng niệm về thầy. Có đăng ảnh vài dòng tiểu sử và trích đăng một chùm thơ . Trong đó có bài tặng người bạn thơ Trần Văn Lữ.

" Thằng bạn chưa già tóc đã bạc

Bụng đầy kinh lễ với kinh thư

Chuyện đời hư ảo xin mài gác

Không lẻ mày là ngủ tử tư

Hay mài muốn làm một Nhan Hồi

Thôi hãy vì nhau uống mềm môi

Đã biết đời người cơn gió thoảng

Thì mau kẻo rượu sẽ bay hơi..."

Mới đây gặp lại một số bạn bè thành phố Hồ Chí Minh về quê, nhắc lại thầy cũ, ai cũng bồi hồi xúc động và mong muốn có một dịp nào đó cùng hành hương về quê thầy - quê nhà thơ Phan Phụng Thạch.

Những điều chân thực mà thầy đã ghi trong thơ "... những chiếc cầu đã gãy..." ấy bây giờ đã được nối lại. Cầu Hiền Lương, cầu Thạch Hãn...không chỉ một cầu mà có đến 2 cầu, kể cả phục chế nguyên trạng di tích cầu.

Thầy Thạch ơi, một cõi vô minh, tôi vẫn tin tưởng tâm trạng khắc khoải của nhà thơ sẽ an lòng trước hiện thực cuộc sống sôi động hôm nay một khi nước nhà đã thống nhất.

V.Văn Hoa


27.7.2008

QUA ĐẠO ĐẦU

NHỚ THẦY PHAN PHỤNG THẠCH

Những năm đầu thập niên 70 thế kỷ trước, tôi ra học đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng. Mới đó mà đã 38 năm. 38năm chưa phải là dài nhưng với tôi đã có những kỷ niệm sâu sắc về mái trường, thầy cô, bạn bè. Là dân ban C (ban văn chương) nên tôi thường đến thư viện nhà trường. Người thầy "Quản thư" không dạy tôi một giờ nào nhưng tôi rất "tâm phục khẩu phục" đó là nhà giáo - nhà thơ Phan Phụng Thạch, người mà tôi thường gặp tác giả trên những tạp chí bách khoa: văn, những tờ báo "Vang bóng một thời".

Một ông thầy dong dỏng cao thường đeo kính trắng, ít nói, nhưng đọc thơ thầy mới hay cái tâm của người luôn hướng về quê hương, bạn bè đặc biệt là học trò của mình. Tập thơ " Lưu bút mùa hạ" của thầy là một minh chứng:

" Rồi chiều nay giã từ từng nỗi chết

Ta trở về đứng giữa những tang thương

Quê hương đó những chiếc cầu đã gãy

Còn mong chi nối lại những con đường.

Còn ai đó những người thân yêu cũ

Thắp giùm ta một chút nắng trong hồn

Em còn không hay muôn đời đã ngủ

Ôi một thời hoa bướm Hạnh Hoa thôn..."

( Khi ta về Quảng Trị)

Quê thầy ở thôn Đạo Đầu xã Triệu Trung một làng quê có truyền thống văn hóa. Giáo sư Phan Văn Dật - tác giả "Bâng khuâng" (thơ tiền chiến) trong "Thi nhân Việt Nam" (Hoài Thân - Hoài Chân) có đề cập cũng là người cùng làng. Nhiều lần qua Đạo Đầu, hình ảnh thi sĩ họ Phan này cứ ám ảnh trong tôi hoài! Phải chăng có cùng mẫu số chung về duyên nợ thi ca?

Sau này vào Huế học sư phạm thì bàng hoàng nghe tin "Thầy Thạch đã mất vì mắc phải căn bệnh quái ác: "Bệnh hoại huyết". Tôi nhớ không nhầm, trên tạp chí Bách khoa, nhà thơ Chu Vương Miện đã có số tưởng niệm về thầy. Có đăng ảnh vài dòng tiểu sử và trích đăng một chùm thơ . Trong đó có bài tặng người bạn thơ Trần Văn Lữ.

" Thằng bạn chưa già tóc đã bạc

Bụng đầy kinh lễ với kinh thư

Chuyện đời hư ảo xin mài gác

Không lẻ mày là ngủ tử tư

Hay mài muốn làm một Nhan Hồi

Thôi hãy vì nhau uống mềm môi

Đã biết đời người cơn gió thoảng

Thì mau kẻo rượu sẽ bay hơi..."

Mới đây gặp lại một số bạn bè thành phố Hồ Chí Minh về quê, nhắc lại thầy cũ, ai cũng bồi hồi xúc động và mong muốn có một dịp nào đó cùng hành hương về quê thầy - quê nhà thơ Phan Phụng Thạch.

Những điều chân thực mà thầy đã ghi trong thơ "... những chiếc cầu đã gãy..." ấy bây giờ đã được nối lại. Cầu Hiền Lương, cầu Thạch Hãn...không chỉ một cầu mà có đến 2 cầu, kể cả phục chế nguyên trạng di tích cầu.

Thầy Thạch ơi, một cõi vô minh, tôi vẫn tin tưởng tâm trạng khắc khoải của nhà thơ sẽ an lòng trước hiện thực cuộc sống sôi động hôm nay một khi nước nhà đã thống nhất.

V.Văn Hoa


Thứ Năm, 24 tháng 7, 2008

25.8. 2008

Viết theo yêu cầu của VÕ THỊ QUỲNH:
THƯ PHÁP
HOÀNG TẤN TRUNG


Làng văn vật Câu Nhi xã Hải Tân, huyện Hải Lăng đã sản sinh nhiều tài năng. Tiến sĩ Bùi Dục Tài đã khai khoa vào năm 1502 là ông Nghè đầu tiên của xứ Đàng trong, tiếp theo đó là hàng loạt ông Tú, ông Cử, các quan Thượng Thư... liên tiếp xuất hiện qua các triều đại. Đương đại có nhạc sĩ Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Bộ VH-TT, Phó Chủ tịch thường trực toàn quốc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt nam và nhiều người khác.
Hoàng Tấn Trung sống trong “nôi làng” đó và bộc lộ nhiều tài năng. Được học đến nơi đến chốn, hiện anh giữ cương vị Trưởng phòng kinh tế- đối ngoại Sở KH đầu tư Quảng Trị, phó giám đốc dự án ADB. Ngoài công tác quản lý, anh còn làm thơ. Thi thoảng trên các báo Quảng Trị, tạp chí Cửa Việt và một số báo khác, ta bắt gặp tác giả với những bài thơ trữ tình. Các đêm thơ, ngày thơ, anh có chất giọng “ thơ quãng trường” có sức lôi cuốn khán thính giả. Bạn bè quen thân anh, công nhận anh có một trí nhớ tốt “chuyện trào kim cổ Đông Tây”.
Đặc biệt những năm gần đây, anh đã liên tục “xuất xưởng” những bức thư pháp chữ Hán và chữ Việt có ấn tượng. Số lượng lên đến hàng ngàn. Mỗi “bức tranh chữ” đều có phong cách riêng, đường nét riêng, khó lẫn ai khác.
Thư pháp Hoàng Tấn Trung khác với thư pháp Thanh Hoàng Khê ( Hà Nội), Nguyễn Thanh Sơn ( Sài Gòn), Sư Phước Thành, Sư Minh Đức, Triều Tâm Ảnh, Nguyệt Đình, Hải Trung ở Huế.
Theo anh, anh đã khổ luyện nhiều năm nay với ba mục đích: “giải trí, luyện tâm và tải đạo” và anh đã thử nghiệm thành công viết thư pháp trên gỗ, xốp, lụa, gạch hoa, giấy dó... đi đâu, đến đâu, anh cố tìm bằng được các chất liệu “đậm đà bản sắc dân tộc” để thể hiện tác phẩm của mình. Ra Bắc công tác, anh tìm về làng Đông Hồ mua giấy dó đặc chủng...
Cuối năm Nhâm ngọ, anh đã tổ chức triển lãm “thư-pháp-vườn” trong một quần thể tự nhiên có cây, có hoa, có sinh cảnh và vật cảnh. Thư pháp của anh cũng đã phục vụ khách thưởng ngoạn trong phiên chợ Đình Bích La ( mồng 4 tết âm lịch năm nay); ngày thơ Việt Nam tại khu di tích Thành Cổ Quảng Trị; lễ hội đón bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia đình làng Câu Nhi quê anh mới đây. Đặc biệt các tác phẩm thư pháp của anh đã đi vào lòng mến mộ của bè bạn và trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi gia đình. Ngoài những câu danh ngôn, những bài thơ, tứ thơ hay... của các danh nhân, anh còn khắc hoạ chữ Tâm, chữ Nhẫn, chữ Tuệ... để “ tải đạo” đó chăng?
“Tầm chương trích cú”, tôi biết Vương Hy Chi- nhà thư pháp Trung Quốc luyện bút liên tục trong mười lăm năm, cháu ông, Vương Thiền Sư đã khổ luyện trong 40 năm. Trương Chi mỗi lần tập viết xong, rửa bút xuống ao, lâu ngày nước ao đen như mực, nhà nghèo, phải luyện viết chữ trên lá chuối. Nhờ thế nét bút ông phóng túng, phiệu đạt, mảnh mai thần điệu...
Hoàng Tấn Trung của Quảng Trị chúng ta hôm nay đã thổi hồn mình vào các bức tranh chữ tài hoa, đã góp thêm cho văn hoá làng, văn hoá vật thể tỉnh nhà những nét xuân sắc, phóng khoáng đến lạ lùng.
Tôi hy vọng “người đam mê thư pháp” ( một phóng sự của đài PTTH Quảng Trị nói về Hoàng Tấn Trung, phát vào sáng mồng 2 tết Quí Mùi ),
“ tiếp tục dụng công thư pháp
Chút gì phượng múa rồng bay!
Chút gì hào hoa phong nhã
Kẻ sĩ bây giờ lên tay”.
VÕ VĂN HOA

25.8. 2008

Viết theo yêu cầu của VÕ THỊ QUỲNH:
THƯ PHÁP
HOÀNG TẤN TRUNG


Làng văn vật Câu Nhi xã Hải Tân, huyện Hải Lăng đã sản sinh nhiều tài năng. Tiến sĩ Bùi Dục Tài đã khai khoa vào năm 1502 là ông Nghè đầu tiên của xứ Đàng trong, tiếp theo đó là hàng loạt ông Tú, ông Cử, các quan Thượng Thư... liên tiếp xuất hiện qua các triều đại. Đương đại có nhạc sĩ Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Bộ VH-TT, Phó Chủ tịch thường trực toàn quốc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt nam và nhiều người khác.
Hoàng Tấn Trung sống trong “nôi làng” đó và bộc lộ nhiều tài năng. Được học đến nơi đến chốn, hiện anh giữ cương vị Trưởng phòng kinh tế- đối ngoại Sở KH đầu tư Quảng Trị, phó giám đốc dự án ADB. Ngoài công tác quản lý, anh còn làm thơ. Thi thoảng trên các báo Quảng Trị, tạp chí Cửa Việt và một số báo khác, ta bắt gặp tác giả với những bài thơ trữ tình. Các đêm thơ, ngày thơ, anh có chất giọng “ thơ quãng trường” có sức lôi cuốn khán thính giả. Bạn bè quen thân anh, công nhận anh có một trí nhớ tốt “chuyện trào kim cổ Đông Tây”.
Đặc biệt những năm gần đây, anh đã liên tục “xuất xưởng” những bức thư pháp chữ Hán và chữ Việt có ấn tượng. Số lượng lên đến hàng ngàn. Mỗi “bức tranh chữ” đều có phong cách riêng, đường nét riêng, khó lẫn ai khác.
Thư pháp Hoàng Tấn Trung khác với thư pháp Thanh Hoàng Khê ( Hà Nội), Nguyễn Thanh Sơn ( Sài Gòn), Sư Phước Thành, Sư Minh Đức, Triều Tâm Ảnh, Nguyệt Đình, Hải Trung ở Huế.
Theo anh, anh đã khổ luyện nhiều năm nay với ba mục đích: “giải trí, luyện tâm và tải đạo” và anh đã thử nghiệm thành công viết thư pháp trên gỗ, xốp, lụa, gạch hoa, giấy dó... đi đâu, đến đâu, anh cố tìm bằng được các chất liệu “đậm đà bản sắc dân tộc” để thể hiện tác phẩm của mình. Ra Bắc công tác, anh tìm về làng Đông Hồ mua giấy dó đặc chủng...
Cuối năm Nhâm ngọ, anh đã tổ chức triển lãm “thư-pháp-vườn” trong một quần thể tự nhiên có cây, có hoa, có sinh cảnh và vật cảnh. Thư pháp của anh cũng đã phục vụ khách thưởng ngoạn trong phiên chợ Đình Bích La ( mồng 4 tết âm lịch năm nay); ngày thơ Việt Nam tại khu di tích Thành Cổ Quảng Trị; lễ hội đón bằng công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia đình làng Câu Nhi quê anh mới đây. Đặc biệt các tác phẩm thư pháp của anh đã đi vào lòng mến mộ của bè bạn và trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi gia đình. Ngoài những câu danh ngôn, những bài thơ, tứ thơ hay... của các danh nhân, anh còn khắc hoạ chữ Tâm, chữ Nhẫn, chữ Tuệ... để “ tải đạo” đó chăng?
“Tầm chương trích cú”, tôi biết Vương Hy Chi- nhà thư pháp Trung Quốc luyện bút liên tục trong mười lăm năm, cháu ông, Vương Thiền Sư đã khổ luyện trong 40 năm. Trương Chi mỗi lần tập viết xong, rửa bút xuống ao, lâu ngày nước ao đen như mực, nhà nghèo, phải luyện viết chữ trên lá chuối. Nhờ thế nét bút ông phóng túng, phiệu đạt, mảnh mai thần điệu...
Hoàng Tấn Trung của Quảng Trị chúng ta hôm nay đã thổi hồn mình vào các bức tranh chữ tài hoa, đã góp thêm cho văn hoá làng, văn hoá vật thể tỉnh nhà những nét xuân sắc, phóng khoáng đến lạ lùng.
Tôi hy vọng “người đam mê thư pháp” ( một phóng sự của đài PTTH Quảng Trị nói về Hoàng Tấn Trung, phát vào sáng mồng 2 tết Quí Mùi ),
“ tiếp tục dụng công thư pháp
Chút gì phượng múa rồng bay!
Chút gì hào hoa phong nhã
Kẻ sĩ bây giờ lên tay”.
VÕ VĂN HOA