Hiển thị các bài đăng có nhãn bìnhthơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bìnhthơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2008

01.12..2008 TRANG ĐỜI – TRANG THƠ CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG

TRANG ĐỜI – TRANG THƠ

CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG

Có lẽ không đâu như ở Hải Lăng một vùng quê úng trũng, đồng đất chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã khô lại xuất hiện nhiều nhà giáo – nhà thơ đến vậy. Họ là những cán bộ quản lý, giáo viên đứng lớp không chỉ chăm lo cho sự nghiệp “trăm năm trồng người” mà còn là những con tằm nhả tơ, dệt niềm vui cho đời bằng những bài thơ nhẹ nhàng, ấm áp.

Hơn 10 năm qua, phong trào sáng tác văn học ở ngành giáo dục Hải Lăng đã nở rộ thông qua các cuộc thi thơ, văn, bình chọn những tác giả, tác phẩm trong nhà trường, mảnh đất mà họ gieo ươm để cho ra đời những tác phẩm hay được đánh dấu suốt 12 năm qua trên các tập san HOA ĐẦU MÙA.

...Hai anh em ruột cùng một lò đào tạo ĐHSP mà ra, nhà giáo – nhà thơ anh là Võ Văn Hoa, đương chức Phó trưởng phòng GD-ĐT Hải Lăng, đã có thơ đăng suốt 27 năm qua trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương, đã từng đoạt giải 3 cuộc thi thơ trên tạp chí Cửa Việt năm 1996, giải thưởng phóng sự đăng trên báo Quảng Trị “Những bác sĩ của ruộng đồng” năm 1998. Đã có lần anh Hoa bộc bạch:

Em thì đi ngang mà thơ thì đi dọc

Em và thơ ngang dọc suốt đời tôi...

Gần đây nhất trên báo Quảng Trị cuối tuần ra ngày 2/11/2002, thơ anh viết:

Em nói rằng: trái tim đã đến tận cùng

Vẫn có những điều không thể nói

...Cơn gió nào thoáng qua miền cổ tích

Em nói rằng: phía ấy có trong nhau...

Nhà giáo, nhà thơ em – Võ Văn Luyến, đã trải qua những tháng năm trong đời quân ngũ, rồi sinh viên trường ĐHSP, ra trường về công tác tại trường CĐSP Quảng Trị. Thạc sĩ Võ Văn Luyến luôn đau đáu, tâm huyết gắn bó với văn chương, thơ đã quyện chặt vào máu thịt của anh. Cũng như Võ Văn Hoa, thơ của Võ Văn Luyến đã đăng tải ở nhiều tờ báo, tạp chí và còn giành được nhiều giải thưởng. Sống trong một gia đình nề nếp gia phong, được người cha kính yêu truyền lại dòng máu thơ ca nên anh đã:

Giữa muôn làn điệu dân ca

Trong ba một Huế thiết tha mặn nồng

Để rồi:

...Thơ con khơi tự nguồn ba theo về” (Tuổi già của ba giữa câu ca Huế)

Với nghề nghiệp anh đã

...Thời gian cho con đâu được nhiều hơn

Ngày đi dạy bên trang giáo án

Chong thức với nghĩa đời quá lớn

...Những trang đời – trang thơ của các nhà giáo Hải Lăng vẫn còn mãi chảy, đó là chắt lọc cuộc sống hiện tạ i và là niềm tin yêu của tương lai. Tin rằng trang giáo án – trang đời – trang thơ sẽ quyện chặt, chảy mãi và thăng hoa cùng họ trên hành trình giáo dục vẻ vang của nhà giáo- nhà thơ ấy.

Ngân Hoa

(Báo Quảng Trị cuối tuần số 1515 ra ngày 23/11/2002)

01.12..2008 TRANG ĐỜI – TRANG THƠ CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG

TRANG ĐỜI – TRANG THƠ

CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG

Có lẽ không đâu như ở Hải Lăng một vùng quê úng trũng, đồng đất chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã khô lại xuất hiện nhiều nhà giáo – nhà thơ đến vậy. Họ là những cán bộ quản lý, giáo viên đứng lớp không chỉ chăm lo cho sự nghiệp “trăm năm trồng người” mà còn là những con tằm nhả tơ, dệt niềm vui cho đời bằng những bài thơ nhẹ nhàng, ấm áp.

Hơn 10 năm qua, phong trào sáng tác văn học ở ngành giáo dục Hải Lăng đã nở rộ thông qua các cuộc thi thơ, văn, bình chọn những tác giả, tác phẩm trong nhà trường, mảnh đất mà họ gieo ươm để cho ra đời những tác phẩm hay được đánh dấu suốt 12 năm qua trên các tập san HOA ĐẦU MÙA.

...Hai anh em ruột cùng một lò đào tạo ĐHSP mà ra, nhà giáo – nhà thơ anh là Võ Văn Hoa, đương chức Phó trưởng phòng GD-ĐT Hải Lăng, đã có thơ đăng suốt 27 năm qua trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương, đã từng đoạt giải 3 cuộc thi thơ trên tạp chí Cửa Việt năm 1996, giải thưởng phóng sự đăng trên báo Quảng Trị “Những bác sĩ của ruộng đồng” năm 1998. Đã có lần anh Hoa bộc bạch:

Em thì đi ngang mà thơ thì đi dọc

Em và thơ ngang dọc suốt đời tôi...

Gần đây nhất trên báo Quảng Trị cuối tuần ra ngày 2/11/2002, thơ anh viết:

Em nói rằng: trái tim đã đến tận cùng

Vẫn có những điều không thể nói

...Cơn gió nào thoáng qua miền cổ tích

Em nói rằng: phía ấy có trong nhau...

Nhà giáo, nhà thơ em – Võ Văn Luyến, đã trải qua những tháng năm trong đời quân ngũ, rồi sinh viên trường ĐHSP, ra trường về công tác tại trường CĐSP Quảng Trị. Thạc sĩ Võ Văn Luyến luôn đau đáu, tâm huyết gắn bó với văn chương, thơ đã quyện chặt vào máu thịt của anh. Cũng như Võ Văn Hoa, thơ của Võ Văn Luyến đã đăng tải ở nhiều tờ báo, tạp chí và còn giành được nhiều giải thưởng. Sống trong một gia đình nề nếp gia phong, được người cha kính yêu truyền lại dòng máu thơ ca nên anh đã:

Giữa muôn làn điệu dân ca

Trong ba một Huế thiết tha mặn nồng

Để rồi:

...Thơ con khơi tự nguồn ba theo về” (Tuổi già của ba giữa câu ca Huế)

Với nghề nghiệp anh đã

...Thời gian cho con đâu được nhiều hơn

Ngày đi dạy bên trang giáo án

Chong thức với nghĩa đời quá lớn

...Những trang đời – trang thơ của các nhà giáo Hải Lăng vẫn còn mãi chảy, đó là chắt lọc cuộc sống hiện tạ i và là niềm tin yêu của tương lai. Tin rằng trang giáo án – trang đời – trang thơ sẽ quyện chặt, chảy mãi và thăng hoa cùng họ trên hành trình giáo dục vẻ vang của nhà giáo- nhà thơ ấy.

Ngân Hoa

(Báo Quảng Trị cuối tuần số 1515 ra ngày 23/11/2002)

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2008

03.11. 2008 “CÒN TA VỚI MÌNH” VÀ DẤU ẤN QUÊ NHÀ QUẢNG TRỊ

“CÒN TA VỚI MÌNH” VÀ DẤU ẤN QUÊ NHÀ QUẢNG TRỊ

Tập thơ “ Còn ta với mình” cho thấy gương mặt thơ của Võ Văn Hoa trong những mối quan hệ với đời sống và nghệ thuật. Những bài thơ được sáng tác theo tinh thần ấy đã thể hiện những cảm xúc của Võ Văn Hoa trước những hiện tượng khách quan và chủ quan, trong đó mối quan tâm chính của nghệ sĩ là sự rung động của tình cảm mỗi khi khám phá vóc dáng và tâm hồn của quê nhà. Điều này cho thấy rõ, đối với con người thi ca Võ Văn Hoa, quê nhà Quảng Trị có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình nhận thức nghệ thuật trước nhiều vấn đề của tâm hồn. Quê nhà Quảng Trị đã là một mảng đề tài chủ yếu, một dấu ấn đậm nét trong những trang thơ “còn ta với mình” mà bằng khả năng sáng tạo, Võ Văn Hoa đã có thể làm người đọc tìm được sự giao hòa, đồng điệu trong cảm nhận.

Là người con của làng Thi Ông, xã Hải Vĩnh Huyện Hải Lăng, quê nhà trong trang thơ “Còn ta với mình” mà Võ Văn Hoa muốn khắc họa, miêu tả như một không gian trữ tình với những thực tế đã được khúc xạ qua tâm hồn: “Hộ Phiên, Ruộng Địa, Thượng Đạc/ biển lúa vàng mênh mông/chiền chiện, dế mèn ngân lên khúc hát, quê mình đang vào mùa lúa chín/thơm cọng rơm vàng/anh qua xóm làng/đất ngấu bùn cuống rạ/gánh thóc về muôn ngã”. Nơi chôn nhau cắt rốn đã gieo trong tâm hồn thơ của Võ Văn Hoa ý thức về cội nguồn. Cội nguồn ấy không gì khác ngoài một miền quê trên mảnh đất Quảng Trị bên dòng Ô Lâu hiện bóng những câu thơ “Bên dòng sống Ô Lâu trường mọc rất gần...”. Quê nhà là nơi mà thực hiện đời sống luôn làm bận rộn, xao xuyến trái tim của Võ Văn Hoa trong niềm vui và sự say mê khám phá bản chất thẩm mỹ của nó. Cho nên, nội dung cuộc sống của quê nhà đã hòa nhập và làm lóe lên trong Võ Văn Hoa tia sáng của những cảm xúc nhuốm màu sắc trữ tình. Và với mục đích phản ánh từng rung động giữa tâm hồn mình trước cuộc sống đã được lựa chọn trong những khoảnh khắc thi vị, cá tính sáng tạo của Võ Văn Hoa cũng được hình thành để trên những trang thơ “Còn ta với mình” nỗi lên một âm sắc, một tình cảm cơ bản là sự gắn bó và yêu thương quê hương ruột rà. Hơn nữa, dường như trong quá trình thâm nhập vào những miền quê, chính Võ Văn Hoa luôn mong muốn những miền quê ấy thấy mình có trong thơ cũng như giữa một người biết cách nói về cuộc sống bằng thơ và những miền quê có sự cảm động. Tâm lý sáng tác này đã thúc đẩy Võ Văn Hoa sử dụng trực tiếp những khơi gợi, những khung cảnh và trí tưởng tượng chân tình để những hình ảnh thơ về quê nhà “Còn ta với mình” giống như hoa trên đồng nội.

Một cách bình dị, dấu ấn quê nhà Quảng Trị trong tập thơ “Còn ta với mình” dành trở nên đậm nét từ màu vào mùi của đất rồi hơi nước, hương cây đến vị gió của huyện trũng Hải Lăng có “những bước chân vương bùn non đến lớp” trong “Tháng ba chớm nắng thoáng yên lành” sau rốn lũ vừa qua, có làng Thi Ông có “Biêng biếc gió hương vườn, reo vui từng mái lá”, có ngôi làng “Võ Xá hóa văn chương”...tạo ra nội dung và hình ảnh thơ của quê nhà Quảng Trị trong “Còn ta với mình” có thêm dáng vẻ hùng vĩ và khí thiêng của ngọn núi mai “vắt kiệt cằn khô ruộng đất/mùa xuân mai nở ở non cao/mai nở vàng sông, rực suối/đại ngàn dát nắng ca dao/bản nhỏ, em gùi hoa chuối/anh đến vít cong rượu cần/ ...luân vũ bập bùng đêm trắng/không gian vàng tận ngoài kia”, là chợ Cầu ở Gio Linh với “vôi trắng nghìn năm lời ước hẹn, đỏ au cổ tích chẳng phai nhòa”, cùng miền tây có ĐaKrông là “Một phiến mây rừng, một phiến không/...nước đầu nguồn xanh bóng nhẩy” và “Những em bé Pa cô, Vân Kiều/...sớm nay không theo mẹ lên nương/ sớm nay em thả bộ đến trường/qua Hướng Linh, Hướng Phùng/qua Húc Nghì, Tà Rụt/...các em – như hoa cà phê trắng”. Bằng cuộc sống trong sự vận động ở những miền quê thân thuộc đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác của Võ Văn Hoa, “Còn ta với mình” tới được với lòng người Quảng Trị. Người đọc nhận ra những trang thơ này được soi sáng bằng những thay đổi tốt đẹp trong đời sống thực lẫn đời sống tinh thần của những làng quê mà ngay trong phạm vi khách quan đó, Võ Văn Hoa đã phát hiện ra sự ấm áp của tình cảm con người và những nhân cách thuần hậu. Vì thế, thơ quê nhà Quảng Trị trong “Còn ta với mình” vừa phản ánh hiện thực như dạng tồn tại và phản ánh được tâm hồn của con người trong thực tế đó vừa có được màu sắc lãng mạn.

Đưa vóc dáng vào việc nhận thức cuộc sống về mặt thẩm mỹ, Võ Văn Hoa đã tạo ra những hình ảnh thơ khá đầy đặn cảm xúc trong “Còn ta với mình”. Có thể là những làng quê “Phú, Thượng, Lệ, Quy, Tân, Vĩnh, Thiện, Thành” với lịch sử đã được viết bằng “từng lớp người ra trận” trong quá khứ và hiện tại đang “thức dậy những mầm xanh” trong hôm nay, là một nơi mà khi con người “lặn lội tìm nguồn năm tháng” sẽ “vỡ ra giọng tiếng ru hời” và “gặp đất đai thầm lặng/ cho đời cây lá xanh tươi”, với làng Kim Long, gương mặt của quê nhà thơm ngát hương men của “vò rượu thiên hà”. Làm nên nét đẹp của quê nhà trong những trang thơ “Còn ta với mình” còn là mùa xuân Thành cổ với “dòng sông hoa tưởng niệm nở đầy”, là “dải yếm đào còn hồng sắc nhớ” ở làng Mỹ nhân bên dòng Ô Lâu xanh trong, là những người con gái làng Văn “đoan trang tính cách, má môi hồng”.

Lớn lên từ cọng rơm vàng của quê nhà, tác giả của những vần thơ “Còn ta với mình” đã biết cách lấy những làng quê Hải Lăng, Quảng Trị làm đối tượng, thế giới quan và tâm lý sáng tác. “Còn ta với mình” thể hiện những cảm xúc của Võ Văn Hoa trong mối quan hệ với làng quê có ý nghĩa khơi gợi thi hứng và mong muốn bộc lộ tình yêu hướng tới “những làng xã choàng lên mình vương miện, những tầng cao...”

Nguyễn Bội Nhiên

(Báo Quảng Trị cuối tuần số ra ngày 5/6/2004)

03.11. 2008 “CÒN TA VỚI MÌNH” VÀ DẤU ẤN QUÊ NHÀ QUẢNG TRỊ

“CÒN TA VỚI MÌNH” VÀ DẤU ẤN QUÊ NHÀ QUẢNG TRỊ

Tập thơ “ Còn ta với mình” cho thấy gương mặt thơ của Võ Văn Hoa trong những mối quan hệ với đời sống và nghệ thuật. Những bài thơ được sáng tác theo tinh thần ấy đã thể hiện những cảm xúc của Võ Văn Hoa trước những hiện tượng khách quan và chủ quan, trong đó mối quan tâm chính của nghệ sĩ là sự rung động của tình cảm mỗi khi khám phá vóc dáng và tâm hồn của quê nhà. Điều này cho thấy rõ, đối với con người thi ca Võ Văn Hoa, quê nhà Quảng Trị có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình nhận thức nghệ thuật trước nhiều vấn đề của tâm hồn. Quê nhà Quảng Trị đã là một mảng đề tài chủ yếu, một dấu ấn đậm nét trong những trang thơ “còn ta với mình” mà bằng khả năng sáng tạo, Võ Văn Hoa đã có thể làm người đọc tìm được sự giao hòa, đồng điệu trong cảm nhận.

Là người con của làng Thi Ông, xã Hải Vĩnh Huyện Hải Lăng, quê nhà trong trang thơ “Còn ta với mình” mà Võ Văn Hoa muốn khắc họa, miêu tả như một không gian trữ tình với những thực tế đã được khúc xạ qua tâm hồn: “Hộ Phiên, Ruộng Địa, Thượng Đạc/ biển lúa vàng mênh mông/chiền chiện, dế mèn ngân lên khúc hát, quê mình đang vào mùa lúa chín/thơm cọng rơm vàng/anh qua xóm làng/đất ngấu bùn cuống rạ/gánh thóc về muôn ngã”. Nơi chôn nhau cắt rốn đã gieo trong tâm hồn thơ của Võ Văn Hoa ý thức về cội nguồn. Cội nguồn ấy không gì khác ngoài một miền quê trên mảnh đất Quảng Trị bên dòng Ô Lâu hiện bóng những câu thơ “Bên dòng sống Ô Lâu trường mọc rất gần...”. Quê nhà là nơi mà thực hiện đời sống luôn làm bận rộn, xao xuyến trái tim của Võ Văn Hoa trong niềm vui và sự say mê khám phá bản chất thẩm mỹ của nó. Cho nên, nội dung cuộc sống của quê nhà đã hòa nhập và làm lóe lên trong Võ Văn Hoa tia sáng của những cảm xúc nhuốm màu sắc trữ tình. Và với mục đích phản ánh từng rung động giữa tâm hồn mình trước cuộc sống đã được lựa chọn trong những khoảnh khắc thi vị, cá tính sáng tạo của Võ Văn Hoa cũng được hình thành để trên những trang thơ “Còn ta với mình” nỗi lên một âm sắc, một tình cảm cơ bản là sự gắn bó và yêu thương quê hương ruột rà. Hơn nữa, dường như trong quá trình thâm nhập vào những miền quê, chính Võ Văn Hoa luôn mong muốn những miền quê ấy thấy mình có trong thơ cũng như giữa một người biết cách nói về cuộc sống bằng thơ và những miền quê có sự cảm động. Tâm lý sáng tác này đã thúc đẩy Võ Văn Hoa sử dụng trực tiếp những khơi gợi, những khung cảnh và trí tưởng tượng chân tình để những hình ảnh thơ về quê nhà “Còn ta với mình” giống như hoa trên đồng nội.

Một cách bình dị, dấu ấn quê nhà Quảng Trị trong tập thơ “Còn ta với mình” dành trở nên đậm nét từ màu vào mùi của đất rồi hơi nước, hương cây đến vị gió của huyện trũng Hải Lăng có “những bước chân vương bùn non đến lớp” trong “Tháng ba chớm nắng thoáng yên lành” sau rốn lũ vừa qua, có làng Thi Ông có “Biêng biếc gió hương vườn, reo vui từng mái lá”, có ngôi làng “Võ Xá hóa văn chương”...tạo ra nội dung và hình ảnh thơ của quê nhà Quảng Trị trong “Còn ta với mình” có thêm dáng vẻ hùng vĩ và khí thiêng của ngọn núi mai “vắt kiệt cằn khô ruộng đất/mùa xuân mai nở ở non cao/mai nở vàng sông, rực suối/đại ngàn dát nắng ca dao/bản nhỏ, em gùi hoa chuối/anh đến vít cong rượu cần/ ...luân vũ bập bùng đêm trắng/không gian vàng tận ngoài kia”, là chợ Cầu ở Gio Linh với “vôi trắng nghìn năm lời ước hẹn, đỏ au cổ tích chẳng phai nhòa”, cùng miền tây có ĐaKrông là “Một phiến mây rừng, một phiến không/...nước đầu nguồn xanh bóng nhẩy” và “Những em bé Pa cô, Vân Kiều/...sớm nay không theo mẹ lên nương/ sớm nay em thả bộ đến trường/qua Hướng Linh, Hướng Phùng/qua Húc Nghì, Tà Rụt/...các em – như hoa cà phê trắng”. Bằng cuộc sống trong sự vận động ở những miền quê thân thuộc đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác của Võ Văn Hoa, “Còn ta với mình” tới được với lòng người Quảng Trị. Người đọc nhận ra những trang thơ này được soi sáng bằng những thay đổi tốt đẹp trong đời sống thực lẫn đời sống tinh thần của những làng quê mà ngay trong phạm vi khách quan đó, Võ Văn Hoa đã phát hiện ra sự ấm áp của tình cảm con người và những nhân cách thuần hậu. Vì thế, thơ quê nhà Quảng Trị trong “Còn ta với mình” vừa phản ánh hiện thực như dạng tồn tại và phản ánh được tâm hồn của con người trong thực tế đó vừa có được màu sắc lãng mạn.

Đưa vóc dáng vào việc nhận thức cuộc sống về mặt thẩm mỹ, Võ Văn Hoa đã tạo ra những hình ảnh thơ khá đầy đặn cảm xúc trong “Còn ta với mình”. Có thể là những làng quê “Phú, Thượng, Lệ, Quy, Tân, Vĩnh, Thiện, Thành” với lịch sử đã được viết bằng “từng lớp người ra trận” trong quá khứ và hiện tại đang “thức dậy những mầm xanh” trong hôm nay, là một nơi mà khi con người “lặn lội tìm nguồn năm tháng” sẽ “vỡ ra giọng tiếng ru hời” và “gặp đất đai thầm lặng/ cho đời cây lá xanh tươi”, với làng Kim Long, gương mặt của quê nhà thơm ngát hương men của “vò rượu thiên hà”. Làm nên nét đẹp của quê nhà trong những trang thơ “Còn ta với mình” còn là mùa xuân Thành cổ với “dòng sông hoa tưởng niệm nở đầy”, là “dải yếm đào còn hồng sắc nhớ” ở làng Mỹ nhân bên dòng Ô Lâu xanh trong, là những người con gái làng Văn “đoan trang tính cách, má môi hồng”.

Lớn lên từ cọng rơm vàng của quê nhà, tác giả của những vần thơ “Còn ta với mình” đã biết cách lấy những làng quê Hải Lăng, Quảng Trị làm đối tượng, thế giới quan và tâm lý sáng tác. “Còn ta với mình” thể hiện những cảm xúc của Võ Văn Hoa trong mối quan hệ với làng quê có ý nghĩa khơi gợi thi hứng và mong muốn bộc lộ tình yêu hướng tới “những làng xã choàng lên mình vương miện, những tầng cao...”

Nguyễn Bội Nhiên

(Báo Quảng Trị cuối tuần số ra ngày 5/6/2004)

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2008

25.8.2008 BÌNH THƠ

BÌNH THƠ

BÃO

(Võ Văn Hoa).

Vắng âm thanh của chú ếch đồng

Những giun dế, côn trùng muôn thưở

Đêm thị trấn mùa mưa đầu khó ngủ

Sao nhớ hoài da diết một vùng quê!

Nhớ cuống rạ, dấu chân người lặn lội

Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng

Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối

Gậy khua vào bảng lảng hoàng hôn.

Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên

Có một người trong tim bão nổi

Tôi đi ngược phía chiều gió thổi

Cõi lòng ơi! Sao dứt thưở đi về!

Quảng Trị, một miền quê nghèo đầy gió lào cát trắng, một miền quê đầy bão lũ, cơm tám ngày ba, nhưng những ai đi xa, dù không cách núi ngăn sông, không trèo đèo, lội suối, dù chỉ trong gang tất, nhưng vẫn day dứt nhớ về. Võ Văn Hoa cũng không là ngoại lệ - bởi Anh là một người con của đồng quê chân chất, của ngọn khói lam chiều, của bữa cơm xum vầy sau một ngày làm việc, nên khi:

“Vắng âm thanh những chú ếch đồng

Những giun dế, côn trùng muôn thưở”

Anh trở nên khó ngủ ngay trong lòng thị trấn thơ mộng, bởi:

“Sao nhớ hoài da diết một vùng quê”!

Vâng, là người, ai cũng có nỗi nhớ, với người này là nỗi nhớ gia đình, với người kia là nỗi nhớ bè bạn, với người nọ là nỗi nhớ người yêu, với một ai đó, cũng có thể là nỗi nhớ - “nhơ, nhớ cái hôn đầu tiên”*, nhưng với Anh, đó là nỗi nhớ làng, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ nơi mình đã từng dứt áo ra đi, dù:

“Nhập cư đã ba năm

Khôn nguôi nhớ mảnh hồn làng

Dẫu khóm mới nắng hồng cánh phượng

Chén bạn chén mình đêm gọi ngày sang”.*

Tôi biết, Anh là người tếu táo, thích đùa, Anh thường nói:”Phải biết hòa nhập, chứ đừng nên hòa tan”, nhưng Anh cũng là một con người đa mang, sâu nặng ân tình, nên chính Anh - mà có thể cũng là chính chúng ta, cũng phải nghĩ suy, trăn trỡ khi nghe:

“Vợ bảo một mai mây trôi bèo dạt

Trong Anh còn mãi nẻo đi về!”.*

Chính vì còn mãi nẻo đi về, nên cơn bão thiên nhiên không làm sao lấn át được cơn bão lòng, nó dằn vặt Anh, những câu chữ ngỗn ngang, dồn nén tự dưng trổi dậy, ùa ra, kết thành nỗi nhớ:

“Nhớ cuống rạ, dấu chân người lặn lội

Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng

Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối

Gậy khua vào bảng lảng hoàng hôn”.

Vâng, sau những nỗi niềm sẻ chia, sau những bôn ba ngày tháng, sau những lần xa cách, và cũng có thể, sau những lần sống thật, đối diện với chính mình để đo chiều dài nỗi nhớ, nỗi chờ mong, Anh đã có một lời khẳng định thật nhẹ nhàng mà sâu lắng:

“Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên

Có một người trong tim bão nổi

Tôi đi ngược phía chiều gió thổi

Cõi lòng ơi! Sao dứt thưở đi về!”.

Bài thơ đã khép lại, nhưng những gì Anh viết cứ hiện diện, cứ lắng đọng mãi như sợ đời không hiểu mình, người không hiểu mình. Đó phải chăng, cũng là một phong cách rất riêng, rất chi là Võ Văn Hoa mà người đọc, người viết cảm nhận về Anh vậy!.

Hải Chánh, ngày 20 tháng 08 năm 2008.

NGUYỄN THỊ LAI

*: Lời một bài hát.

*: Tản mạn đêm thị trấn - Thơ: Võ Văn Hoa.

25.8.2008 BÌNH THƠ

BÌNH THƠ

BÃO

(Võ Văn Hoa).

Vắng âm thanh của chú ếch đồng

Những giun dế, côn trùng muôn thưở

Đêm thị trấn mùa mưa đầu khó ngủ

Sao nhớ hoài da diết một vùng quê!

Nhớ cuống rạ, dấu chân người lặn lội

Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng

Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối

Gậy khua vào bảng lảng hoàng hôn.

Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên

Có một người trong tim bão nổi

Tôi đi ngược phía chiều gió thổi

Cõi lòng ơi! Sao dứt thưở đi về!

Quảng Trị, một miền quê nghèo đầy gió lào cát trắng, một miền quê đầy bão lũ, cơm tám ngày ba, nhưng những ai đi xa, dù không cách núi ngăn sông, không trèo đèo, lội suối, dù chỉ trong gang tất, nhưng vẫn day dứt nhớ về. Võ Văn Hoa cũng không là ngoại lệ - bởi Anh là một người con của đồng quê chân chất, của ngọn khói lam chiều, của bữa cơm xum vầy sau một ngày làm việc, nên khi:

“Vắng âm thanh những chú ếch đồng

Những giun dế, côn trùng muôn thưở”

Anh trở nên khó ngủ ngay trong lòng thị trấn thơ mộng, bởi:

“Sao nhớ hoài da diết một vùng quê”!

Vâng, là người, ai cũng có nỗi nhớ, với người này là nỗi nhớ gia đình, với người kia là nỗi nhớ bè bạn, với người nọ là nỗi nhớ người yêu, với một ai đó, cũng có thể là nỗi nhớ - “nhơ, nhớ cái hôn đầu tiên”*, nhưng với Anh, đó là nỗi nhớ làng, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ nơi mình đã từng dứt áo ra đi, dù:

“Nhập cư đã ba năm

Khôn nguôi nhớ mảnh hồn làng

Dẫu khóm mới nắng hồng cánh phượng

Chén bạn chén mình đêm gọi ngày sang”.*

Tôi biết, Anh là người tếu táo, thích đùa, Anh thường nói:”Phải biết hòa nhập, chứ đừng nên hòa tan”, nhưng Anh cũng là một con người đa mang, sâu nặng ân tình, nên chính Anh - mà có thể cũng là chính chúng ta, cũng phải nghĩ suy, trăn trỡ khi nghe:

“Vợ bảo một mai mây trôi bèo dạt

Trong Anh còn mãi nẻo đi về!”.*

Chính vì còn mãi nẻo đi về, nên cơn bão thiên nhiên không làm sao lấn át được cơn bão lòng, nó dằn vặt Anh, những câu chữ ngỗn ngang, dồn nén tự dưng trổi dậy, ùa ra, kết thành nỗi nhớ:

“Nhớ cuống rạ, dấu chân người lặn lội

Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng

Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối

Gậy khua vào bảng lảng hoàng hôn”.

Vâng, sau những nỗi niềm sẻ chia, sau những bôn ba ngày tháng, sau những lần xa cách, và cũng có thể, sau những lần sống thật, đối diện với chính mình để đo chiều dài nỗi nhớ, nỗi chờ mong, Anh đã có một lời khẳng định thật nhẹ nhàng mà sâu lắng:

“Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên

Có một người trong tim bão nổi

Tôi đi ngược phía chiều gió thổi

Cõi lòng ơi! Sao dứt thưở đi về!”.

Bài thơ đã khép lại, nhưng những gì Anh viết cứ hiện diện, cứ lắng đọng mãi như sợ đời không hiểu mình, người không hiểu mình. Đó phải chăng, cũng là một phong cách rất riêng, rất chi là Võ Văn Hoa mà người đọc, người viết cảm nhận về Anh vậy!.

Hải Chánh, ngày 20 tháng 08 năm 2008.

NGUYỄN THỊ LAI

*: Lời một bài hát.

*: Tản mạn đêm thị trấn - Thơ: Võ Văn Hoa.

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

14.7. 2008 THƯ VÀ BÌNH THƠ

Anh Hoa kinh men!
Em cam on anh da dua bai binh tho Tran Dang Khoa cua em len bloc cua anh.
Lan nay, nhu da hua voi anh, em gui anh bai viet: "Cay tho tre Vo Van Luyen" viet luc ong Luyen chua thanh danh, nhung bai viet nay da du cam va du bao rat som con duong Tho cua thi si Luyen (trong bai viet nay co trich dan ca nhung cau tho cua thi si Luyen cho den nay van chua he dang tai tren sach bao nao).
Kinh chuc anh manh khoe, van hanh!
Da ta
Em
Nguyen Hoan


@ NGUYỄN HOÀN. Cảm ơn em rất nhiều. Cho phép anh chuyển tải bài này của em đã viết từ 17 năm về trước nhé!

Cây thơ trẻ Võ Văn Luyến

NGUYỄN HOÀN

Cứ mỗi lần cây bút thơ trẻ Võ Văn Luyến run lên dưới vòm ngực hao khuyết mà luôn đập bất thường ngỏ cùng thiên hạ những xốn xang, những cơn nhói của tim anh là mỗi lần anh chạm trúng miền tâm linh của tôi, khiến tôi được thêm một lần phát hiện ra tuyên ngôn thơ gạo cội của anh:

Mưa nắng cuộc đời tai bay vạ gió

Ta vẫn hát bài yêu thương trăm năm

(Trầm khúc)

Hình như Luyến sinh ra là để tự thú với thơ về những mong manh, phấp phỏng, xao xuyến cứ quấn lấy kiếp người đến dai dẳng trong trường tình. Nói thế, xin ai đừng tưởng rằng Nàng Thơ của Luyến gầy guộc đi vì thiếu những vần hoan ca. Dưới đôi mắt thiên thanh của Luyến ngày trai trẻ, những tình nhân muôn thuở vẫn hằng hân hoan mượn những câu hát mẹ ru, câu lý chiều chiều bắc cầu cho hò hẹn. Đáng mừng hơn cho những tình nhân này nữa là nhờ Luyến mà còn được giao duyên theo lối bắc cầu dải yếm, lối giao duyên mang sắc màu ca dao cứ ngỡ là đã một đi không trở lại. Nhưng dòng đời biến dịch, Luyến không ở lâu với chiếc cầu ấy được. Đúng là “Rằng quen mất nết đi rồi” (Nguyễn Du), Luyến quen trầm tưởng, hoài niệm về những chân trời ái ân xưa cũ nhiều đắng đót, xót xa, nhiều tơ trời dạt bay, nhiều thương đau trắng tóc, nhiều dấu chân đi lạc của anh. Thơ buồn chưa hẳn đã là hay nhưng thơ hay thường buồn, cái tín điều mà nhiều thi sĩ hằng theo này có thể được kiểm chứng lại bằng thơ Luyến. Được vậy là một cơ may cho thơ chứ sao! May hơn nữa là anh đã biết để cho những câu Kiều ám ảnh đến mức nhập đồng vào tâm can mình, khiến cho thơ anh có được những nỗi niềm vang ngân:

Niềm đau chín trái còn lưa

Bao giờ cho đến bây giờ riêng mang

(Lời xưa)

May hơn nữa là anh đã biết gợi thức được một tín điều mà Bô-đơ-le (thi sĩ Pháp) chủ xướng, rằng: mùi hương, màu sắc và âm thanh tương giao cùng nhau về hội nhập trong cõi nhớ heo hút của mình để được an ủi:

Nhớ hôm qua nụ cười còn biết tím

Cho nhau nghe dịu ngọt trái mơ hồng

(Đầy vơi)

hay

Mưa gõ tím con đường em tới lớp

(Cái nhìn, quà tặng)

Luyến vẫn hằng xem việc mình để lòng nặng neo về chân trời cũ là một thiên chức buồn thương chỉ dành cho riêng ký ức anh mang vác mà thôi, chứ không phải mang đổ thừa cho ai khác. Thành ra, dễ hiểu vì sao con người vốn dĩ nặng nợ với tiền sử lại nhủ người khác đầy bao dung rằng:

Đừng nói chi tiền sử

Em hãy cứ bắt đầu

Nỗi niềm dù đau khổ

Hận tình rồi qua mau

(Tiền sử)

Đừng tưởng anh cao đạo nhủ suông ai đâu. Đúng ra là anh đang muốn tìm một lời nhắn đồng điệu. Chấp nhận như thế, ai cũng sẽ mở lòng chia sẻ với những lời nhắn có tính triết lý cảnh báo về nhân thế:

Đời lạ thế: xây ông thiện lại hoá thành ông ác

Mà suốt đời không tin là sự thật

(Tản mạn trước giờ bão đến)

Không còn nghi ngờ gì nữa, trầm tưởng và trầm tư về tình người, về lẽ đời đã trở thành những trạng huống thăng hoa có tính thanh lọc (catharsis) và cứu rỗi tâm tư con người trong thơ Võ Văn Luyến.

Tháng 11-1991

N.H


14.7. 2008 THƯ VÀ BÌNH THƠ

Anh Hoa kinh men!
Em cam on anh da dua bai binh tho Tran Dang Khoa cua em len bloc cua anh.
Lan nay, nhu da hua voi anh, em gui anh bai viet: "Cay tho tre Vo Van Luyen" viet luc ong Luyen chua thanh danh, nhung bai viet nay da du cam va du bao rat som con duong Tho cua thi si Luyen (trong bai viet nay co trich dan ca nhung cau tho cua thi si Luyen cho den nay van chua he dang tai tren sach bao nao).
Kinh chuc anh manh khoe, van hanh!
Da ta
Em
Nguyen Hoan


@ NGUYỄN HOÀN. Cảm ơn em rất nhiều. Cho phép anh chuyển tải bài này của em đã viết từ 17 năm về trước nhé!

Cây thơ trẻ Võ Văn Luyến

NGUYỄN HOÀN

Cứ mỗi lần cây bút thơ trẻ Võ Văn Luyến run lên dưới vòm ngực hao khuyết mà luôn đập bất thường ngỏ cùng thiên hạ những xốn xang, những cơn nhói của tim anh là mỗi lần anh chạm trúng miền tâm linh của tôi, khiến tôi được thêm một lần phát hiện ra tuyên ngôn thơ gạo cội của anh:

Mưa nắng cuộc đời tai bay vạ gió

Ta vẫn hát bài yêu thương trăm năm

(Trầm khúc)

Hình như Luyến sinh ra là để tự thú với thơ về những mong manh, phấp phỏng, xao xuyến cứ quấn lấy kiếp người đến dai dẳng trong trường tình. Nói thế, xin ai đừng tưởng rằng Nàng Thơ của Luyến gầy guộc đi vì thiếu những vần hoan ca. Dưới đôi mắt thiên thanh của Luyến ngày trai trẻ, những tình nhân muôn thuở vẫn hằng hân hoan mượn những câu hát mẹ ru, câu lý chiều chiều bắc cầu cho hò hẹn. Đáng mừng hơn cho những tình nhân này nữa là nhờ Luyến mà còn được giao duyên theo lối bắc cầu dải yếm, lối giao duyên mang sắc màu ca dao cứ ngỡ là đã một đi không trở lại. Nhưng dòng đời biến dịch, Luyến không ở lâu với chiếc cầu ấy được. Đúng là “Rằng quen mất nết đi rồi” (Nguyễn Du), Luyến quen trầm tưởng, hoài niệm về những chân trời ái ân xưa cũ nhiều đắng đót, xót xa, nhiều tơ trời dạt bay, nhiều thương đau trắng tóc, nhiều dấu chân đi lạc của anh. Thơ buồn chưa hẳn đã là hay nhưng thơ hay thường buồn, cái tín điều mà nhiều thi sĩ hằng theo này có thể được kiểm chứng lại bằng thơ Luyến. Được vậy là một cơ may cho thơ chứ sao! May hơn nữa là anh đã biết để cho những câu Kiều ám ảnh đến mức nhập đồng vào tâm can mình, khiến cho thơ anh có được những nỗi niềm vang ngân:

Niềm đau chín trái còn lưa

Bao giờ cho đến bây giờ riêng mang

(Lời xưa)

May hơn nữa là anh đã biết gợi thức được một tín điều mà Bô-đơ-le (thi sĩ Pháp) chủ xướng, rằng: mùi hương, màu sắc và âm thanh tương giao cùng nhau về hội nhập trong cõi nhớ heo hút của mình để được an ủi:

Nhớ hôm qua nụ cười còn biết tím

Cho nhau nghe dịu ngọt trái mơ hồng

(Đầy vơi)

hay

Mưa gõ tím con đường em tới lớp

(Cái nhìn, quà tặng)

Luyến vẫn hằng xem việc mình để lòng nặng neo về chân trời cũ là một thiên chức buồn thương chỉ dành cho riêng ký ức anh mang vác mà thôi, chứ không phải mang đổ thừa cho ai khác. Thành ra, dễ hiểu vì sao con người vốn dĩ nặng nợ với tiền sử lại nhủ người khác đầy bao dung rằng:

Đừng nói chi tiền sử

Em hãy cứ bắt đầu

Nỗi niềm dù đau khổ

Hận tình rồi qua mau

(Tiền sử)

Đừng tưởng anh cao đạo nhủ suông ai đâu. Đúng ra là anh đang muốn tìm một lời nhắn đồng điệu. Chấp nhận như thế, ai cũng sẽ mở lòng chia sẻ với những lời nhắn có tính triết lý cảnh báo về nhân thế:

Đời lạ thế: xây ông thiện lại hoá thành ông ác

Mà suốt đời không tin là sự thật

(Tản mạn trước giờ bão đến)

Không còn nghi ngờ gì nữa, trầm tưởng và trầm tư về tình người, về lẽ đời đã trở thành những trạng huống thăng hoa có tính thanh lọc (catharsis) và cứu rỗi tâm tư con người trong thơ Võ Văn Luyến.

Tháng 11-1991

N.H


Thứ Năm, 10 tháng 7, 2008

12.7. 2008 NHÀ BÁO NGUYỄN HOÀN bình thơ




Ảnh: Nhạc sĩ Phạm Duy và nhà báo Nguyễn Hoàn

Nhà báo NGUYỄN HOÀN, quê ở Bích La, Triệu Đông, Triệu Phong, một làng quê văn vật- cùng quê cố TBT Lê Duẫn, danh họa Lê Bá Đãng,…, xuất thân từ khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Huế trước đây. Hiện nay Anh là Thư ký tòa soạn, Trưởng ban Biên tập Báo Quảng Trị. Là cây bút nhà nòi, ngoài công việc bếp núc của một nhà báo bản lĩnh, anh đã cho ra đời 2 tác phẩm bút ký, phóng sự:Một cõi vĩnh hằng- Hội VHNT & Hội nhà báo Quảng Trị-2002, Mai sau dù có bao giờ- NXB Thuận Hóa-2007Nguyễn Hoàn tài hoa đã đoạt nhiều giải thưởng báo chí địa phương và trung ương đồng thời là một MC có phong cách, một “cây bình thơ sắc sảo”… Xin giới thiệu với các bạn về một nhà báo bình thơ!

Trường Sa trong thơ Trần Đăng Khoa


NGUYỄN HOÀN

Qua tuổi thiếu niên, cánh thơ Trần Đăng Khoa đã “Từ góc sân nhà em” bay đến với mọi miền đất nước như biên cương, hải đảo. Một trong những nơi nhà thơ hái lượm được nhiều thi tứ nhất là Trường Sa, “cái giọt máu thiêng liêng dưới ngầu ngầu bọt sóng” của Tổ quốc thân yêu. Qua chùm thơ viết về Trường Sa của Trần Đăng Khoa, người đọc bắt gặp nhà thơ lúc thì đứng bên “cây bão táp đảo Nam Yết” để cảm nhận sức sống dẻo dai, bền bỉ của nó, lúc quyến luyến cùng “cô tổng đài hải đảo”, lúc cất cao giọng hoà ca cùng “Lính đảo hát trường ca trên đảo”, lúc ngồi ôm súng giữa đồng đội hồi hộp “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”. Cảnh vật và con người ở Trường Sa được tôi luyện dạn dày qua thời gian bám trụ giữa bão táp và sóng dữ. Sự sống Trường Sa đã nhân lên như thế giữa cuộc đời và trong thơ Trần Đăng Khoa. Ở đây có những con người trước lúc bám biển đã quen bám rừng, mang trong mình chất lính chung đúc nên từ nắng mưa đời lính:

Mới năm nào em còn ở Trường Sơn

Nay đã Trường Sa. Tổng đài hải đảo

Gió biển mặn mòi bạc bao lần áo

Mà cơn sốt rét rừng vẫn còn run trong da

(Cô tổng đài hải đảo)

Sự sống Trường Sa có những biểu hiện độc đáo mà những ai chưa một lần đến đây hay chưa một lần đọc thơ Trần Đăng Khoa chẳng thể nào ngờ tới được, dẫu cho ai đó có trí tưởng tượng phong phú chăng nữa. Vả lại, đôi cánh của trí tưởng tượng vẫn là do cuộc sống chắp cho kia mà. Ai có ngờ đâu “in lên màu mây mang bão” của Trường Sa không chỉ có “bóng anh hải quân hiên ngang” mà còn có cả những “bóng cây son trẻ”. Con mắt tinh tường của nhà thơ đã nhìn thấy những dáng vẻ dịu dàng dễ thương của sự sống nơi Trường Sa bão táp

Thân cây sao mà mềm mại

Lá cây sao vẫn mượt mà

Mỗi năm hàng trăm cơn bão

Trên mình cây đã đi qua

(Cây phong ba đảo Nam Yết)

Vẫn dưới đôi mắt nhạy cảm ấy, những đường nét tưởng như là gai góc, những màu sắc tưởng như là khô khan, những chất liệu tưởng như là trần trụi, thô nhám của Trường Sa, hết thảy đều biến thành thi liệu qua cảm quan nghệ thuật của Trần Đăng Khoa. Chẳng hạn, có người lại bảo hòn đá làm sao gợi nổi thi hứng, ấy thế mà Trần Đăng Khoa viết rất nhiều về đá Trường Sa. Không hẳn rằng viết về cát dễ hơn viết về đá, nhưng thơ viết về cát thì có nhiều mà thơ viết về đá thì còn ít. Thơ xưa viết về đá hay nhất là thơ Hồ Xuân Hương. Nhà thơ tả màu đá trong bài “Đá ông chồng bà chồng” rất sinh sắc: “Tuyết điểm phơ đầu bạc, Sương sa đượm má hồng”.

Trong thơ Trần Đăng Khoa, đá Trường Sa cũng có hồn như chiến sĩ Trường Sa vậy: “Đá vững bền”, “đá tốt tươi”, “hòn đá ngàn năm trong nhịp đập tim người”, “đảo đá cất thành lời”, “đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên”...Đá được diễn tả theo lối nhân hoá hay chính đá vốn đã là biểu trưng cho sự sống Trường Sa kiên cường, vững chãi trong thơ Trần Đăng Khoa, có lẽ là cả hai. Hình ảnh những người lính Trường Sa “trọc đầu” vì cắt tóc ngắn để “tiết kiệm” nước gội đầu, trong hoàn cảnh ở Trường Sa thiếu nước ngọt được diễn tả qua bài thơ “Lính đảo hát tình ca trên đảo” trông ngạo nghễ và gan lì như đá Trường Sa:

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu

Nước ngọt hiếm không lẽ dành gội tóc

Lính trẻ lính già đều trọc tếu như nhau

và nhà thơ đã có sự liên tưởng độc đáo mà thú vị về những hòn đá mang “hồn lính” Trường Sa:

Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót

Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau

Ngoài mép biển người đâu lên đông thế

Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu...

Nhà thơ viết nhiều về sóng gió Trường Sa nhưng không làm con người chìm lấp giữa thiên nhiên. Trái lại, sóng gió được dựng dậy làm nền để nhà thơ khắc hoạ chân dung lồng lộng, “ngang tàng như gió biển” của chiến sĩ Trường Sa. “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” là bài thơ hay nhất bởi lẽ diễn tả được vẻ đẹp tâm hồn tươi tắn, lạc quan của người lính đảo (bài này đạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1981-1982). Ngồi đợi mưa giữa mùa khô, những người lính đảo hoá trẻ lại tuổi hồn nhiên dưới một cơn mưa mộng tưởng:

Ôi ước gì được thấy mưa rơi

Chúng tôi sẽ trụi trần, nhảy choi choi trên mặt cát

Giãy giụa tơi bời trên mặt cát

Như con cá rô rạch nước đón mưa rào

Úp miệng vào tay chúng tôi sẽ cùng gào

Như ếch nhái uôm uôm khắp đảo

Tự xác định rằng “dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo”, những người lính đảo vẫn mong mưa hiện cuối chân trời để được đón đợi:

Mưa vẫn giăng màu lộng lẫy phía xa khơi

Mưa yểu điệu như một nàng công chúa

Người lính đảo ấp ủ niềm ao ước lãng mạn mà hiện thực này để cầm chắc tay súng, cũng như cả dân tộc ấp ủ niềm tin vào tương lai đất nước mạnh giàu, xán lạn mà dốc sức xây dựng cuộc sống mới, và gian khó chịu đựng chỉ càng nuôi bền thêm khát vọng mãnh liệt để đủ sức vượt lên phong ba bão táp, phải chăng đấy là cái “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ? Không một thế lực nào có thể làm suy suyển mối gắn bó và niềm tin yêu son sắt với Trường Sa của dân tộc mà thơ Trần Đăng Khoa đã thể hiện rất đỗi tha thiết và hùng hồn:

Đất nước Việt Nam một lần nữa nối liền

Những quần đảo long lanh như ngọc dát

hay:

Nào hát lên cho đêm tối biết

Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây

Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió

Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này

(Lính đảo hát tình ca trên đảo)

NGUYỄN HOÀN




12.7. 2008 NHÀ BÁO NGUYỄN HOÀN bình thơ




Ảnh: Nhạc sĩ Phạm Duy và nhà báo Nguyễn Hoàn

Nhà báo NGUYỄN HOÀN, quê ở Bích La, Triệu Đông, Triệu Phong, một làng quê văn vật- cùng quê cố TBT Lê Duẫn, danh họa Lê Bá Đãng,…, xuất thân từ khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Huế trước đây. Hiện nay Anh là Thư ký tòa soạn, Trưởng ban Biên tập Báo Quảng Trị. Là cây bút nhà nòi, ngoài công việc bếp núc của một nhà báo bản lĩnh, anh đã cho ra đời 2 tác phẩm bút ký, phóng sự:Một cõi vĩnh hằng- Hội VHNT & Hội nhà báo Quảng Trị-2002, Mai sau dù có bao giờ- NXB Thuận Hóa-2007Nguyễn Hoàn tài hoa đã đoạt nhiều giải thưởng báo chí địa phương và trung ương đồng thời là một MC có phong cách, một “cây bình thơ sắc sảo”… Xin giới thiệu với các bạn về một nhà báo bình thơ!

Trường Sa trong thơ Trần Đăng Khoa


NGUYỄN HOÀN

Qua tuổi thiếu niên, cánh thơ Trần Đăng Khoa đã “Từ góc sân nhà em” bay đến với mọi miền đất nước như biên cương, hải đảo. Một trong những nơi nhà thơ hái lượm được nhiều thi tứ nhất là Trường Sa, “cái giọt máu thiêng liêng dưới ngầu ngầu bọt sóng” của Tổ quốc thân yêu. Qua chùm thơ viết về Trường Sa của Trần Đăng Khoa, người đọc bắt gặp nhà thơ lúc thì đứng bên “cây bão táp đảo Nam Yết” để cảm nhận sức sống dẻo dai, bền bỉ của nó, lúc quyến luyến cùng “cô tổng đài hải đảo”, lúc cất cao giọng hoà ca cùng “Lính đảo hát trường ca trên đảo”, lúc ngồi ôm súng giữa đồng đội hồi hộp “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”. Cảnh vật và con người ở Trường Sa được tôi luyện dạn dày qua thời gian bám trụ giữa bão táp và sóng dữ. Sự sống Trường Sa đã nhân lên như thế giữa cuộc đời và trong thơ Trần Đăng Khoa. Ở đây có những con người trước lúc bám biển đã quen bám rừng, mang trong mình chất lính chung đúc nên từ nắng mưa đời lính:

Mới năm nào em còn ở Trường Sơn

Nay đã Trường Sa. Tổng đài hải đảo

Gió biển mặn mòi bạc bao lần áo

Mà cơn sốt rét rừng vẫn còn run trong da

(Cô tổng đài hải đảo)

Sự sống Trường Sa có những biểu hiện độc đáo mà những ai chưa một lần đến đây hay chưa một lần đọc thơ Trần Đăng Khoa chẳng thể nào ngờ tới được, dẫu cho ai đó có trí tưởng tượng phong phú chăng nữa. Vả lại, đôi cánh của trí tưởng tượng vẫn là do cuộc sống chắp cho kia mà. Ai có ngờ đâu “in lên màu mây mang bão” của Trường Sa không chỉ có “bóng anh hải quân hiên ngang” mà còn có cả những “bóng cây son trẻ”. Con mắt tinh tường của nhà thơ đã nhìn thấy những dáng vẻ dịu dàng dễ thương của sự sống nơi Trường Sa bão táp

Thân cây sao mà mềm mại

Lá cây sao vẫn mượt mà

Mỗi năm hàng trăm cơn bão

Trên mình cây đã đi qua

(Cây phong ba đảo Nam Yết)

Vẫn dưới đôi mắt nhạy cảm ấy, những đường nét tưởng như là gai góc, những màu sắc tưởng như là khô khan, những chất liệu tưởng như là trần trụi, thô nhám của Trường Sa, hết thảy đều biến thành thi liệu qua cảm quan nghệ thuật của Trần Đăng Khoa. Chẳng hạn, có người lại bảo hòn đá làm sao gợi nổi thi hứng, ấy thế mà Trần Đăng Khoa viết rất nhiều về đá Trường Sa. Không hẳn rằng viết về cát dễ hơn viết về đá, nhưng thơ viết về cát thì có nhiều mà thơ viết về đá thì còn ít. Thơ xưa viết về đá hay nhất là thơ Hồ Xuân Hương. Nhà thơ tả màu đá trong bài “Đá ông chồng bà chồng” rất sinh sắc: “Tuyết điểm phơ đầu bạc, Sương sa đượm má hồng”.

Trong thơ Trần Đăng Khoa, đá Trường Sa cũng có hồn như chiến sĩ Trường Sa vậy: “Đá vững bền”, “đá tốt tươi”, “hòn đá ngàn năm trong nhịp đập tim người”, “đảo đá cất thành lời”, “đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên”...Đá được diễn tả theo lối nhân hoá hay chính đá vốn đã là biểu trưng cho sự sống Trường Sa kiên cường, vững chãi trong thơ Trần Đăng Khoa, có lẽ là cả hai. Hình ảnh những người lính Trường Sa “trọc đầu” vì cắt tóc ngắn để “tiết kiệm” nước gội đầu, trong hoàn cảnh ở Trường Sa thiếu nước ngọt được diễn tả qua bài thơ “Lính đảo hát tình ca trên đảo” trông ngạo nghễ và gan lì như đá Trường Sa:

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu

Nước ngọt hiếm không lẽ dành gội tóc

Lính trẻ lính già đều trọc tếu như nhau

và nhà thơ đã có sự liên tưởng độc đáo mà thú vị về những hòn đá mang “hồn lính” Trường Sa:

Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót

Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau

Ngoài mép biển người đâu lên đông thế

Ồ, hoá ra toàn những đá trọc đầu...

Nhà thơ viết nhiều về sóng gió Trường Sa nhưng không làm con người chìm lấp giữa thiên nhiên. Trái lại, sóng gió được dựng dậy làm nền để nhà thơ khắc hoạ chân dung lồng lộng, “ngang tàng như gió biển” của chiến sĩ Trường Sa. “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” là bài thơ hay nhất bởi lẽ diễn tả được vẻ đẹp tâm hồn tươi tắn, lạc quan của người lính đảo (bài này đạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1981-1982). Ngồi đợi mưa giữa mùa khô, những người lính đảo hoá trẻ lại tuổi hồn nhiên dưới một cơn mưa mộng tưởng:

Ôi ước gì được thấy mưa rơi

Chúng tôi sẽ trụi trần, nhảy choi choi trên mặt cát

Giãy giụa tơi bời trên mặt cát

Như con cá rô rạch nước đón mưa rào

Úp miệng vào tay chúng tôi sẽ cùng gào

Như ếch nhái uôm uôm khắp đảo

Tự xác định rằng “dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo”, những người lính đảo vẫn mong mưa hiện cuối chân trời để được đón đợi:

Mưa vẫn giăng màu lộng lẫy phía xa khơi

Mưa yểu điệu như một nàng công chúa

Người lính đảo ấp ủ niềm ao ước lãng mạn mà hiện thực này để cầm chắc tay súng, cũng như cả dân tộc ấp ủ niềm tin vào tương lai đất nước mạnh giàu, xán lạn mà dốc sức xây dựng cuộc sống mới, và gian khó chịu đựng chỉ càng nuôi bền thêm khát vọng mãnh liệt để đủ sức vượt lên phong ba bão táp, phải chăng đấy là cái “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ? Không một thế lực nào có thể làm suy suyển mối gắn bó và niềm tin yêu son sắt với Trường Sa của dân tộc mà thơ Trần Đăng Khoa đã thể hiện rất đỗi tha thiết và hùng hồn:

Đất nước Việt Nam một lần nữa nối liền

Những quần đảo long lanh như ngọc dát

hay:

Nào hát lên cho đêm tối biết

Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây

Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió

Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này

(Lính đảo hát tình ca trên đảo)

NGUYỄN HOÀN